Trên dòng sông Jordan, ánh sáng từ cõi Trời tuôn rải trên Đức Christ, và Đấng Cha Lành của Ngài truyền phán những lời đã được truyền tụng qua các thời đại. Chúng cũng mang lại sự ứng đáp từ tất cả những người chí nguyện hướng về Thiên giới. Thánh linh của Thiên Chúa giáng xuống Ngài như chim bồ câu. Bồ câu bao giờ cũng là biểu tượng của hòa bình. Nó được chọn làm biểu hiệu cho cuộc điểm đạo này vì hai lý do. Như chúng ta biết, nước là biểu tượng của bản chất tình cảm. Khi được tinh luyện qua điểm đạo, tính chất này trở thành hồ nước yên tĩnh và trong trẻo, có khả năng phản ánh Bản tính thiêng liêng, nhờ tinh khiết. Thế nên, sự bình an của Thiên Chúa giáng xuống Jesus, dưới dạng con chim bồ câu.
In the river Jordan the light from Heaven streamed upon the Christ, and His Father spoke those words which have sounded down the ages and have evoked response from all aspirants to the kingdom. The spirit of God descended as a dove upon him. The dove is ever a symbol of peace. For two reasons it was the chosen sign at this initiation. Water, as we have seen, is the symbol of the emotional nature, which nature when purified through initiation, becomes a peaceful limpid pool, capable of reflecting the divine Nature in its purity. Thus, in the form of a dove, the peace of God descended upon Jesus.
Thứ hai, các lưỡng nguyên chính yếu của cuộc sinh tồn có nêu tiêu biểu trong Kinh thánh. Kinh Cựu ước tượng trưng cho phàm nhân tự nhiên, phương diện Mary đồng trinh, mang theo lời hứa về Đấng Cứu thế, về Đấng sẽ đến. Kinh Tân ước tượng trưng cho con người tinh thần, cho Thượng Đế lâm phàm, và cho sự sinh ra của điều mà bản tính vật chất đã cưu mang và che giấu quá lâu. Kinh Cựu ước mở đầu bằng sự xuất hiện của loài quạ lớn vào thời gian lập nên thế giới cổ xưa, như chúng ta có thể bắt đầu biết. Kinh Tân ước mở đầu bằng sự xuất hiện của chim bồ câu – một đàng là biểu tượng của dòng nước cuồng nộ, còn biểu tượng kia chỉ về dòng nước thanh bình. Qua Đức Christ và sự khai mở sự sống Christ trong mỗi người, sẽ có “sự thái hòa mà hiện nay chúng ta chưa thể hiểu.”(cxviii)
Secondly, the essential dualities of existence are typified for us in the Bible. The Old Testament stands for the natural lower man, the virgin Mary aspect, carrying within itself the promise of the Messiah, of Him Who shall come. The New Testament stands for the spiritual man, for God made flesh, and for the birth of that which the material nature carried and veiled for so long. The Old Testament opens with the appearance of the raven at the time of the founding of the ancient world, as we can begin to know it. The New Testament opens with the appearance of a dove—one the symbol of the raging waters, the other the symbol of the waters of peace. Through Christ and the unfoldment of the Christ life in each human being will come “the peace which passeth understanding.” (cxviii)
Đứng trong dòng nước ở Jordan, Đức Christ nhìn thế gian với tư cách Con người. Đứng trên Đỉnh núi Biến dung, Ngài nhìn thế giới với tư cách Thượng Đế. Nhưng trong cuộc điểm đạo này, Ngài đứng ngang hàng với huynh đệ của mình, đồng thời biểu hiện sự thanh khiết và thái hòa. Chúng ta cần lưu ý rằng “theo quan điểm của người khác, kẻ nào có tính độc đáo mới có thể hướng dẫn họ đi xa hơn những gì họ đã biết. Nhưng người ấy không thể làm điều đó nếu chưa có kiên thức ngang tầm với họ.”(cxix) Đây là điều cần lưu ý. Đức Christ đã được tinh luyện. Nhưng còn có những cám dỗ phía trước Ngài. Ngài phải
Standing there in the waters of Jordan, Christ faced the world as Man. Standing upon the top of the Mount of Transfiguration, He faced the World as God. But in this initiation, He stood on a level with His brethren and demonstrated purity and peace. Let us remember that “from the point of view of others only that man is original who can lead them beyond what they already know, but this he cannot do until he has become their equal in their knowledge.” (cxix) This is a point to be remembered. Christ was purified. But ahead of Him lay the temptations. He had
(cxviii):
Phil., IV.7.
(cxviii):
Phil., IV.7.
(cxix):
The Recovery of Truth, by Hermann Keyserling, p. 216.
(cxix):
The Recovery of Truth, by Hermann Keyserling, p. 216.
