trở nên phổ biến, để rốt cuộc tích hợp vào thế giới tư duy và các mô hình của những nhà tư tưởng trong nhân loại. Sau đó, chúng được đánh giá, rồi rốt cuộc với tính cách những ý tưởng mới và độc đáo trở nên kiểu mẫu ứng xử của con người, được chấp nhận rộng rãi và công khai. “Vậy, với câu hỏi rằng liệu những nhân vật lỗi lạc hay các ý tưởng có quyết định vận mệnh của một thời đại hay không, thì câu trả lời là thời đại ấy quả có nhận những ý tưởng của mình từ các nhân vật lỗi lạc.”(clxxv)
in popularity, and their eventual integration in the thought world, the pattern world of the thinkers of the race. Then their fate is determined, and eventually the new and unique idea becomes the popularly and publicly accepted model of human conduct. “To the question, then, whether it is personalities or ideas which decide the fate of an age, the answer is that the age get its ideas from personalities.” (clxxv)
Đức Christ là hiện thân của một ý tưởng vĩ đại, cho thấy rằng Thượng Đế là Bác ái, và bác ái là quyền năng phát động vũ trụ. Quyền năng này là sự soi sáng mà Đức Christ, với tư cách là Ánh sáng của Thế gian, đã chiếu rọi vào tất cả các sự kiện trên thế giới. Không thể nào nhấn mạnh nhiều hơn về sự huy hoàng trong nhận thức này. Cho nên, chúng ta cần phải nhận thức sâu xa hơn và chuyên chú nhiều hơn hiện nay, vì ý tưởng đó vốn là đặc tính và phẩm tính cơ bản và nền tảng của mọi sự kiện, dù bề ngoài của chúng có ra sao. Đức Christ thực sự soi sáng cuộc sống. Đây là một trong những góp phần quan trọng nhất của Ngài cho cuộc sống của mọi người hiện nay. Ngài xác quyết: Thượng Đế yêu thương thế gian; và tất cả những gì xảy ra đều đi theo đường hướng yêu thương này. Nếu người ta nhận thức rằng đây là điều thực tế và chân lý nền tảng, thì nó sẽ soi sáng toàn cuộc sống, và khiến cho mọi gánh nặng trở nên nhẹ nhõm. Nguyên nhân và hậu quả kết hợp lại, đồng thời chúng ta thấy mục đích và phương pháp của Thượng Đế vốn là một. Các nhà thần học thường hay quên điều này khi họ cứ mãi tranh cãi về những điều có tính cách kỹ thuật hơn trong cuộc đời của Đức Christ. Những gì Ngài đã soi sáng trong chức năng của Ngài là “Ánh sáng của Thế gian,” những gì Ngài đã nhận được từ Ánh sáng thiêng liêng và phóng rải nó cho thế gian, và những gì Ngài đã truyền đạt, thì thường bị bỏ qua. Vì họ cứ cố gắng chứng minh sự thực của các giáo điều như Đức Mẹ Đồng trinh là trinh nữ vô nhiễm; và vì thế mà Đức Christ được sinh ra từ sự thụ thai vô nhiễm.
Christ embodied a great idea, the idea that God is Love, and that love is the motivating power of the universe. This constitutes the illumination which Christ as the Light of the World refracted upon all world events. The majesty of this realisation cannot be over-emphasised. We need to realise it far more deeply and potently than we do, for it constitutes the basic, fundamental character and quality of all events, no matter what the outer appearance may be. Christ illumines life. This was one of His most important contributions to life as it is lived today. He said in effect: God loves the world; all that happens is along the line of love. If this is realised as fact and fundamental truth, it illumines all of life and lightens all burdens; cause and effect are brought together, and God's purpose and His method are seen as one. Theologians have often forgotten this as they have struggled over the more technical aspects of Christ's life. What He illumined in His function as the “Light of the World,” what He received of divine Light and poured forth for the world, what He refracted, is often overlooked in the struggle to prove such doctrines as the fact that the Virgin Mary was an immaculate virgin, and Christ was therefore born through the medium of an immaculate conception.
Ngày nay, chỉ một ít người trong thế hệ trẻ là còn bận tâm nhiều vào những điểm đó trong giáo lý. Chúng ta hãy nhấn mạnh như thế. Điều chúng ta quan tâm là tình thương mà Ngài biểu lộ cần được biểu dương trên thế giới, và ánh sáng khai ngộ nơi Ngài cần “chiếu vào để xua tan những gì tăm tối của chúng ta.”
Today only a few of the younger generation care much about such points of doctrine. Let us state that quite emphatically. But we do care that the love which He expressed should be demonstrated in the world and that the illumination He carried should “lighten our darkness.”
Đức Christ dõng dạc xướng lên âm điệu có thể dẫn đến nền văn minh mới và trật tự mới. Thế nên, khi nghiên cứu kỹ
Christ sounded with clarity the note which can usher in the new civilisation and the new order, and a close study of
(clxxv):
The Decay and Restoration of Civilisation, by Albert Schweitzer, p. 82.
(clxxv):
The Decay and Restoration of Civilisation, by Albert Schweitzer, p. 82.
