khổ hình khiến Ngài phải chết. Trong khi đó họ chẳng mấy chú trọng đến Đức Christ là con người hoàn thiện, và Đức Christ là Con của Thượng Đế. Ở Tây phương, người ta đã quên hẳn (hoặc chưa hề biết) ý nghĩa của thập tự giá ở cấp vũ trụ.
instrument of His death, have absorbed men's attention, whilst Christ the perfect man and Christ the Son of God have been less emphasised. The cosmic significance of the cross has been entirely forgotten (or never known) in the West.
Sự cứu rỗi không chính yếu liên quan đến tội lỗi. Tội lỗi là triệu chứng của một tình trạng, và khi người ta “thực sự được cứu rỗi” thì tình trạng ấy cùng với bản chất tội lỗi kèm theo, được hóa giải. Đây chính là điều mà Đức Christ đã đến để thực hiện. Ngài cho chúng ta thấy tính chất của đời sống được “cứu rỗi.” Ngài cho thấy phẩm tính của Chân ngã vĩnh cửu sẵn có trong mỗi người. Đây là bài học của Thập giá hình và sự Phục sinh: phàm tính phải chết dứt để chân tính cao siêu có thể biểu hiện, và linh hồn bất tử vĩnh cửu trong mỗi người phải sống dậy từ nấm mồ của vật chất. Ở đây đáng nên truy tìm nguồn gốc của cái ý tưởng cho rằng con người phải chịu đau khổ trong cõi đời này vì họ đã gây tội lỗi. Ở Đông phương, nơi mà giáo lý về luân hồi và nghiệp quả rất phổ biến, nói rằng mỗi người phải chịu đau khổ do những hành động và tội lỗi của chính mình, và họ “tự thực hiện sự cứu rỗi cho chính mình, với nỗi lo âu và sợ hãi.”(ccvii) Theo giáo huấn Do Thái, mỗi người chịu đau khổ do tội lỗi của tổ tiên mình và của quốc gia mình. Từ đó mà tạo cơ sở cho chân lý mà chỉ đến ngày nay mới bắt đầu trở nên điều thực tế mà ai cũng biết – sự thực về di truyền thể chất. Theo giáo huấn Thiên Chúa giáo, Đức Christ, con người hoàn thiện, chịu đau khổ cùng với Thượng Đế, vì Thượng Đế yêu thương thế gian đến đỗi, vốn hằng hữu nội tại trong thế gian, Ngài không thể nào tự tách rời khỏi các hậu quả do sự vô minh và yếu đuối của con người. Thế nên, vì thực hiện nhân tính mà người ta phải chịu đau khổ, và rốt cuộc sẽ thắng phục được điều tà vạy.
Salvation is not primarily connected with sin. Sin is a symptom of a condition, and when a man is “truly saved” that condition is offset, and with it the incidental sinful nature. It was this that Christ came to do—to show us the nature of the “saved” life; to demonstrate to us the quality of the eternal Self which is in every man; this is the lesson of the Crucifixion and the Resurrection: the lower nature must die in order that the higher may be manifested, and the eternal immortal soul in every man must rise from the tomb of matter. It is interesting to trace the idea that men must suffer in this world as the result of sin. In the East, where the doctrines of reincarnation and of karma hold sway, a man suffers for his own deeds and sins and “works out his own salvation, with fear and trembling.” (ccvii) In the Jewish teaching a man suffers for the sins of his forebears and of his nation, and thus gives substance to a truth which is only today beginning to be a known fact—the truth of physical inheritance. Under the Christian teaching, Christ, the perfect man, suffers with God, because God so loved the world that, immanent in it as He is, He could not divorce Himself from the consequences of human frailty and ignorance. Thus humanity gives a purpose to pain, and thus evil is eventually defeated.
Cái ý nghĩ và quan niệm về việc dùng vật hy sinh để chuộc tội cho con người vốn không phải là điều gì mới có trong thời gian gần đây. Từ thời khởi thủy, nhân loại ấu trĩ đã dâng cúng vật hy sinh cho Thượng Đế để làm nguôi cơn thịnh nộ của Ngài, phô diễn qua các sức mạnh của thiên nhiên như bão tố, động đất, và những tai họa ở cõi trần. Khi do bản năng mà con người xung đột với nhau, khi họ làm điều quấy và gây hại lẫn nhau, vì thế mà vi phạm những mối quan hệ và giao hảo giữa mọi người mà họ chỉ mới nhận thức được một cách lờ mờ, thì bấy giờ họ lại dâng cúng vật hy sinh cho Thượng Đế, để Ngài không làm hại loài người. Bằng cách đó,
The thought and idea of sacrifice for the sins of the people was not the original and basic idea. Originally, infant humanity offered sacrifices to God to appease His wrath, displayed in the elements through storms and earthquakes and physical disasters. When, instinctively, men turned on each other, when they offended and hurt one another, and so transgressed a dimly sensed realisation of human relationships and intercourse, sacrifice was offered again to God so that He too would not hurt mankind. Thus little by little
(ccvii):
Phil., II.12.
(ccvii):
Phil., II.12.
