quan niệm này phát triển cho đến cuối cùng khái niệm về sự cứu rỗi có thể được tóm lược qua những điều sau:
the idea grew until, at last, the salvation concept might be briefly summarised in the following terms:
1. Con người được cứu khỏi những cơn thịnh nộ của Thượng Đế qua các hiện tượng trong thiên nhiên, nhờ dâng cúng những con vật hy sinh. Vào thời xa xưa hơn, thì họ dâng cúng các loại hoa quả của địa cầu.
1. Men are saved from the wrath of God in natural phenomena through animal sacrifices, preceded in still more ancient times by the sacrifice of the fruits of the earth.
2. Con người được cứu khỏi những cơn thịnh nộ của Thượng Đế, và khỏi bị người khác làm hại, bằng cách hy sinh những gì có giá trị, rốt cuộc dẫn đến sự hy sinh chính con người.
2. Men are saved from God's wrath and from each other by the sacrifice of that which is valued, leading eventually to human sacrifices.
3. Con người được cứu rỗi nhờ sự hy sinh của một Người Con Thượng Đế được công nhận. Tức là sự chuộc tội thay thế, vì đó mà nhiều vị Cứu thế đã chịu khổ hình thập tự, để dọn đường cho Đức Christ.
3. Men are saved by the sacrifice of a recognised Son of God, hence the vicarious atonement, for which the many crucified world Saviours prepared the way for Christ.
4. Con người dứt khoát được cứu khỏi hình phạt đời đời do tội lỗi của mình, nhờ sự chết của Đức Christ trên Thập tự giá. Vì thế mà từ người gây tội do lời lẽ bất hảo cho đến kẻ sát nhân đồi bại nhất cũng đều có trách nhiệm về sự chết của Đức Christ.
4. Men are definitely saved from eternal punishment for their sins by the death of Christ upon the Cross, the sinner guilty of an unkind word being as much responsible for the death of Christ as the vilest murderer.
5. Cuối cùng, dần dần có sự công nhận rằng chúng ta được cứu rỗi nhờ Đức Christ đã sống lại và hằng sống – về mặt lịch sử, Ngài cho chúng ta thấy mục tiêu, và cũng hiện diện trong mỗi chúng ta với tính cách là linh hồn toàn tri và vĩnh cửu của con người.
5. Finally, the gradually emerging recognition that we are saved by the living risen Christ—historically presenting to us a goal, and present in each of us as the eternal omniscient soul of man.
Ngày nay, Đức Christ sống lại đang nổi rõ trong tâm thức sáng tỏ của mọi người. Vì thế mà chúng ta đang trên đường đi đến một thời kỳ mang phẩm tính tinh thần cao đẹp hơn, cùng với sự biểu lộ tôn giáo chân thực hơn bất cứ thời gian nào khác trong lịch sử của nhân loại. Ý thức tôn giáo là sự kiên trì biểu lộ của con người tinh thần, tức là Đấng Christ ngự trong tâm. Không điều gì xảy ra ở ngoại giới trên cõi trần, không tình thế nào của quốc gia, dù tạm thời mục tiêu của chúng có vẻ quan trọng đến đâu, khả dĩ làm lu mờ hay xóa nhòa sự Hiện diện của Thượng Đế trong chúng ta. Chúng ta học hiểu rằng có thể khai phóng sự Hiện diện thiêng liêng đó trong ta chỉ bằng sự chết dứt đi phàm tính. Đây là điều mà Đức Christ luôn công bố cho chúng ta biết từ Thập tự giá của Ngài. Chúng ta ngày càng nhận thức rõ rằng “đồng cam cộng khổ với Ngài” có nghĩa là chúng ta cùng lên Thập tự giá với Ngài, và thường xuyên chia sẻ kinh nghiệm Thập giá hình. Dần dần chúng ta biết rằng yếu tố quyết định trong đời sống nhân loại là tình thương, và hiểu rằng “Thượng Đế là bác ái.”(ccviii) Đức Christ đến để cho chúng ta biết rằng bác ái là quyền năng phát
Today it is the risen Christ who is emerging into the forefront of men's consciousness, and because of this we are on our way towards a period of greater spirituality and a truer expression of religion than at any other time in the history of man. The religious consciousness is the persistent expression of the indwelling spiritual man, the Christ within; and no outer earthly happenings, and no national situations, no matter how temporarily material they may appear to be in their objectives, can dull or obliterate the Presence of God in us. We are learning that that Presence can be released in us only by the death of the lower nature, and this is what Christ has always proclaimed to us from His Cross. We are realising increasingly that the “fellowship of His sufferings” means that we mount the Cross with Him and share constantly in the Crucifixion experience. We are coming to the knowledge that the determining factor in human life is love, and that “God is love.” (ccviii) Christ came to show us that love was the motivating
(ccviii):
I St. John, IV.8.
(ccviii):
I St. John, IV.8.
