thực hiện cho nhân loại qua các thời đại, và thái độ của Thượng Đế đối với con người kể từ thời khởi thủy, qua thời gian Đức Christ ở Palestine và tiếp tục cho đến hiện nay, tất cả đều bị cho là phụ thuộc vào việc chúng ta có tin hay không vào hiệu quả của Thập giá hình trên đồi Calvary có thể cứu rỗi linh hồn cá nhân chúng ta đến đâu. Thế mà trong lời đối đáp của Ngài với tên trộm biết ăn năn, hối cải, Đức Christ đã nhận y vào Thiên giới vì y nhận thức được thiên tính. Bấy giờ Đức Christ vẫn chưa chết, và sự hy sinh bằng máu huyết của Ngài chưa xảy ra. Hầu như thể là Đức Christ đã thấy trước cái chiều hướng mà giới thần học sẽ đi theo khi nói về sự chết của Ngài, nên Ngài đã cố gắng hóa giải điều đó bằng cách khiến cho việc công nhận tên trộm đang chờ chết trở thành một trong những sự kiện nổi bật vào lúc Ngài từ trần. Ngài không hề nói gì đến sự xá tội qua máu huyết của Ngài là lý do khiến y được thu nhận.
do for humanity down the ages, and the attitude of God towards human beings from the earliest times, through the period of Christ's life in Palestine and on until the present time, are subordinated to the factor of our belief or non-belief in the efficacy of the Crucifixion upon Calvary to save our individual souls. Yet in His conversation with the repentant thief Christ admitted him into the kingdom of God on the basis of his recognition of divinity. Christ had not yet died, and the blood sacrifice of Christ had not yet been made. It was almost as if Christ had foreseen the turn which theology would give to His death, and endeavoured to offset it by making the recognition of the dying thief one of the outstanding events at His death. He made no reference to the remission of sins through His blood as the reason for that admission.
Vấn đề đích thực lúc bấy giờ là sự xung đột giữa tình thương và thù hận. Chỉ có Thánh John, người đệ tử thân yêu, thân cận nhất với Đức Jesus, mới hiểu được. Các Thư sứ đồ của ông hoàn toàn nhấn mạnh đến tình thương, mà không hề có lối diễn giải thường thấy theo chính thống. Chỉ có tình thương và thù hận; ý muốn sống với tư cách những người con của Thượng Đế, và khuynh hướng sống như kẻ thường nhân. Đây là sự khác biệt giữa người công dân Thiên giới và một thành viên trong gia đình nhân loại. Chính tình thương là điều Đức Christ đã cố gắng biểu lộ. Thế nhưng, chính thù hận, chia rẽ và chiến tranh, lên đến tột đỉnh trong Thế Chiến, lại là đặc trưng cho việc người ta chính thức đưa ra giáo huấn của Ngài, qua các thời đại. Đức Christ đã chịu chết để cho chúng ta thấy rằng đường vào Thiên giới là con đường của tình thương và phụng sự. Ngài đã phụng sự, yêu thương và làm phép lạ, và quy tụ lại những người nghèo đói. Ngài cho họ ăn, và tìm đủ mọi cách có thể để khiến họ chú ý đến nguyên lý tình thương là đặc trưng chính yếu của thiên tính. Nhưng rồi ra cuộc sống phụng sự yêu thương này đã khiến cho Ngài đau khổ và rốt cuộc phải chịu chết trên Thập tự giá.
The real issue was the issue between love and hate. Only St. John, the beloved Apostle, the one closest to Jesus, really understood; and in his Epistles the emphasis is entirely upon love, and the usual orthodox interpretation is nowhere to be found. Just love and hate; the desire to live as children of God and the inclination to live as ordinary human beings: herein lies the distinction between the citizen of the kingdom of God and a member of the human family. It was love which Christ endeavoured to express, but it is hate and separation and war, culminating in the World War, which have characterised the official rendering of His teaching, down the age. Christ died in order to bring to our notice that the way into the kingdom of God was the way of love and of service. He served and loved and wrought miracles, and gathered together the poor and the hungry. He fed them, and sought in every possible way to call attention to the principle of love as the major characteristic of divinity, only to find that this life of loving service brought Him trouble and eventually the death of the Cross.
Chúng ta đã chiến đấu cho giáo lý thần học về sự Giáng sinh qua Đức Mẹ Đồng trinh. Chúng ta đã chiến đấu cho giáo lý về cách mà con người sẽ được cứu rỗi. Chúng ta đã chiến đấu cho vấn đề rửa tội, và
We have fought for the theological doctrine of the Virgin Birth. We have fought over the doctrines whereby men shall be saved. We have fought over the subject of baptism, and
