họ yêu thương Đức Christ, và sự sống Christ bên trong người huynh đệ của mình. Ts. Grensted nêu rõ điều này bằng những lời lẽ sau đây. Ông tóm lược rất hay về thái độ của người Thiên Chúa giáo vào buổi sơ khai và, trong những tháng ngày đầy hứng khởi ấy, quan niệm của họ về Đức Christ và về cuộc sống ở thế gian:
they loved Christ and the Christ within each other. Dr. Grensted points this out in the following words, giving us a fine summation of the attitude of the early Christians and of their approach, in those enthusiastic days, to Christ and to life in the world:
“Họ dùng những lời bình dị khi nói về Thượng Đế. Họ không nghĩ rằng Jesus người Nazareth là một cuộc thí nghiệm quan trọng. Họ biết Ngài là Bạn và là Thầy. Nên trọn cả đời sống của họ thấm nhuần lòng nhiệt thành khi được làm bạn với Ngài và phụng sự Ngài. Họ rao giảng tin lành về Jesus. Họ cho rằng khi người ta nói đến Thượng Đế, thì tất có ngụ ý nào đó, mà không hề thách thức những gì thừa hưởng từ Do Thái giáo. Họ đặt bên cạnh nó Đức Jesus là Đấng mà họ biết đã sống, đã chết và sống lại.
“They spoke in plain terms of God. They did not think of Jesus of Nazareth as a crucial experiment. They knew Him as Friend and Master, and they flung their whole being into the enthusiasm of His friendship and service. Their preaching was the good news about Jesus. They assumed that men already meant something when they spoke of God, and, without challenging the inheritance which they received from Judaism, they set side by side with it the Jesus whom they had known living, and dead, and alive again.
Họ đã trải qua một khoảng thời gian còn tuyệt vời hơn là những điều không thể giải thích như các phép lạ, những trường hợp chữa lành bệnh, những tiếng nói nhiệm mầu, và sự chế ngự Thiên nhiên một cách kỳ lạ, để rốt cuộc thắng phục sự chết. Nếu họ kể cho thế gian, và cho chúng ta, chỉ những điều ấy, thì hẳn là họ đã được tin theo. Những câu chuyện như thế bao giờ cũng có người nghe. Và nếu thế thì mọi người hẵn là vẫn không biết gì hơn về ý nghĩa của Thượng Đế. Nhưng kinh nghiệm của họ là Tình bằng hữu mà con người chưa bao giờ biết, là sự thất bại thảm hại và lòng khoan thứ mà người ta không thể tin là có thực, và cuộc sống sáng tạo, mới mẻ, và tự do. Không điều nào trong tất cả những điều này là do họ đạt được. Họ biết mình là những người được tái tạo, và phương thức tái tạo họ là tình thương. Đây là sự quan phòng, là sự cứu rỗi, cao cả hơn và nhiều ý nghĩa hơn bất cứ điều gì mà người Do Thái đã từng khẳng định về Thượng Đế-Đấng Sáng tạo. Dù vậy, họ không thể nghĩ đến điều đó là gì khác hơn công việc của Ngài, vì Thượng Đế vốn là Duy nhất, như tất cả truyền thống quốc gia của họ đã dạy. Chúng ta có thể nói một cách thận trọng rằng nó giúp họ hiểu về thực tại sáng tạo mà họ, cũng như tất cả mọi người, đều không biết chắc và thậm chí còn sợ hãi. Từ đó trở đi, cái giả thuyết trung tâm mà mọi người gọi là Thượng Đế đã được hiểu là bác ái, và họ hiểu rằng Ngài biểu hiện ở khắp nơi, giống như tình thương đã tuôn rải từ Đức Christ đến các tín hữu trong cộng đồng Thiên Chúa giáo vậy.”(ccxxxviii)
They had been through much more than a time of inexplicable miracles, healings, and voices, and a strange mastery over Nature itself, and at the end a conquest of death. If they had told the world, and us, these things alone, they would have been believed. Such stories have always found a hearing. And men would still have known nothing more of the meaning of God. But their experience had been one of such a Friendship as man had never known, of disastrous failure and a forgiveness beyond all believing, and of a new, a free, a creative life. Nothing of all this was of their own achievement. They knew they were men remade, and they knew that the mode of their remaking was love. This was a providence, a deliverance, greater and more significant than anything that the Jew had ever claimed for the Creator-God. Yet they could not think of it as other than His work, since God, as all their national tradition taught, is One. It interpreted for them, as we might put it in our more cautious way, the creative reality to which they, with all men, had looked with uncertainty and even with fear. Henceforth the central hypothesis which men call God was known as love, and everywhere He was made manifest just in so far as love had passed out from Christ to the fellowship of the Christian community.” (ccxxxviii)
Đức Christ đã sống lại, và sự Phục sinh của Ngài đã chứng tỏ rằng nhân loại có nơi mình hạt giống của sự sống, và không hề có sự chết đối với người có thể đi theo bước chân của Đức Thầy.
Christ had risen, and by His Resurrection proved that humanity had in it the seed of life, and that there was no death for the man who could follow in the steps of the Master.
(ccxxxviii):
Psychology and God, by L.W. Grensted, p. 237.
(ccxxxviii):
Psychology and God, by L.W. Grensted, p. 237.
