nó những đặc tính mới, quyền năng mới, năng lực mới, và chuyển hóa nó thành giống như chính Ngài. Đó là sự Phục sinh của Đức Christ. Từ đó trở đi, chính thể xác đã được thay đổi, với bản chất mới.“(ccxli)
it new properties, new powers, new capacities, transmuting it into His own likeness. That was the Resurrection of the Christ, and thereafter the body of flesh itself was changed, and took on a new nature.” (ccxli)
Vậy, chúng ta thấy rằng câu chuyện phục sinh có nguồn gốc rất cổ xưa. Chúng ta cũng thấy rằng qua các Bí nhiệm và qua những Người Con đã giác ngộ của Ngài, Thượng Đế luôn nêu cao sự thực về tính bất tử trước mắt nhân loại. Ngài cũng làm điều đó trước mắt thế giới Thiên Chúa giáo qua sự chết và sự phục sinh của Người Con yêu dấu của Ngài, là Jesus Christ.
Thus we find that the resurrection story is of very ancient date, and that God has always held before humanity, through the Mysteries and through His illumined Sons, the fact of immortality, as before our Christian world, through the death and resurrection of His beloved Son, Jesus Christ.
Hiện nay, trọn cả vấn đề sự chết và tính bất tử này đang được rất nhiều người trong công chúng quan tâm. Thế Chiến đưa vấn đề sự chết ra trước tâm thức của công chúng theo lối mới, thu hút sự chú ý. Hiếm có gia đình nào trong hai mươi quốc gia mà không bị mất mát do thương vong, dưới hình thức này hay hình thức khác. Thế giới đã trải qua một tiến trình tử vong, và hiện nay bí nhiệm Phục sinh đang trở thành chủ đề hết sức quan trọng trong tâm trí mọi người. Tư tưởng về sự Phục sinh đang ngày càng gần gũi hơn. Trong khi đó, ý nghĩa của nó đã là ý tưởng trọng tâm của Hội Tam Điểm qua các thời đại, là tiêu điểm công việc của Cấp Thứ Ba thánh thiện. Liên quan mật thiết với sự “sống lại” này của Hội Tam Điểm, có một bài thuyết pháp ít người biết, của Đức Phật. Trong đó, Ngài dạy các đệ tử về ý nghĩa “năm điểm của tình bằng hữu.” Thế là có sự liên kết năm điểm này, với năm cuộc khủng hoảng trong đời của Đức Christ, và năm điểm trong huyền thoại của Hội Tam Điểm. Tất cả những điều tham khảo vừa kể cho thấy sự thiên khải liên tục, trong đó sự Phục sinh (với sự Thăng thiên tiếp theo) là sự kiện tột đỉnh đối với người Tây phương.
This whole problem of death and immortality is engrossing a great deal of public attention at this time. The World War brought the fact of death before the public consciousness in a new and arresting manner. There was scarcely a family in over twenty nations which had not been bereft by death, in some form or other. The world has passed through a process of dying, and at the present time the mystery of the Resurrection is becoming a theme of major importance in men's minds. The thought of the Resurrection is coming closer, and its significance has been the central idea of the Masonic Fraternity down the ages, forming the focal point of the work of the sublime Third Degree. In close relation to this Masonic “raising” can be placed a little-known sermon of the Buddha, in which He teaches His disciples the significance of the “five points of Friendship,” and thus links up these five points, the five crises in the life of Christ and the five points in the Masonic legend. All these references serve to show the continuity of revelation of which the Resurrection (with its subsequent Ascension) was the climaxing event for the Occident.
Điều hết sức cần thiết cho Thiên Chúa giáo ngày nay là nhấn mạnh về Đức Christ đã phục sinh và hằng sống. Chúng ta đã bàn cãi quá lâu về sự chết của Đức Christ, tìm cách áp đặt lên thế giới một Đức Christ bè phái, hẹp hòi. Chúng ta đã nuôi dưỡng ngọn lửa chia rẽ qua các chi nhánh, giáo hội, giáo phái và “học thuyết” của Thiên Chúa giáo. “Có vô số
The outstanding need of Christianity today is to emphasise the living, risen Christ. We have argued too long over the death of Christ, seeking to impose a narrow sectarian Christ upon the world. We have fed the fires of separation by our Christian divisions, churches, sects and “isms.” “Their name
(ccxli):
Esoteric Christianity, by Annie Besant, pp. 247, 248, 249.
(ccxli):
Esoteric Christianity, by Annie Besant, pp. 247, 248, 249.
