Trong đó chúng tôi thấy rằng “Nazareth” có nghĩa là “nơi được hiến dâng” hay dành riêng. “Galilee” có nghĩa là “sự xoay chuyển của bánh xe.” Đó là bánh xe luân hồi sinh tử quay liên tục, mang theo tất cả chúng ta, và giữ tất cả chúng ta trên “vòng luân hồi,” như cách gọi của người Phật tử, cho đến khi chúng ta đã học được những bài học của đời sống, và đã trở thành “một chiếc thuyền được tôn vinh, thánh hóa, và thích hợp cho Chủ nhân sử dụng.”(lxxviii)
Therein we find that “Nazareth” means “that which is consecrated” or set apart. “Galilee” means the “turning of the wheel”—that wheel of life and of death which turns continuously, carrying us all with it and keeping us upon the “wheel of existence,” as the Buddhists call it, until we have learnt life's lessons and have become “a vessel unto honour, sanctified, and meet for the Master's use.” (lxxviii)
Đức Christ đã trải qua cuộc hành trình lâu dài trong kiếp luân hồi và, cùng Mẹ, Ngài dấn bước trên đoạn cuối của con đường. Đã được dành riêng từ vạn kỷ cho công tác này nhằm cứu rỗi thế gian, trước hết, Ngài phải theo đúng các tiến trình bình thường, được sinh ra và trải qua thời thơ ấu. Đức Christ đến từ Nazareth, nơi được hiến dâng, rồi đi đến Bethlehem, Nhà làm Bánh mì, ở đó bằng một cách kỳ lạ Ngài đã tự trở thành “Bánh mì của Sự sống”(lxxix) cho thế giới đang đói. Ngài đã được dành riêng, hay tự đứng riêng (như tất cả các những người con của Thượng Đế đã thức tỉnh) để làm công tác cứu rỗi. Ngài đến để nuôi dưỡng những người đói, và có hai câu trong Kinh thánh liên quan đến vấn đề này nói về nhiệm vụ của Ngài và việc chuẩn bị cho nhiệm vụ đó. Isaiah nói với chúng ta rằng “Hạt lúa mì bị bầm giập,”(lxxx) chính Đức Christ cũng bảo chúng ta rằng “Hạt lúa mì vẫn ở một mình, trừ khi nó rơi rụng xuống đất và chết. Nhưng nếu nó chết, nó sẽ mang lại nhiều quả.”(lxxxi) Đây là vận mệnh đang chờ đợi Ngài khi Ngài giáng sinh ở Bethlehem. Sau đó, Ngài đi vào một sự nghiệp mà rốt cuộc làm cho Ngài “bị bầm giập” và khiến Ngài phải chết.
The long journey of existence lies behind the Christ, and He, with His Mother, journeys the last part of the way. Consecrated from past aeons to this very work of world salvage, He has first of all to submit Himself to the ordinary processes of birth and childhood. Christ came forth from Nazareth, the place of consecration, and went up to Bethlehem, the House of Bread, where in a peculiar way He Himself was to become the “Bread of Life” (lxxix) to a hungry world. He was set apart, or set Himself apart (as do all awakened sons of God) for the work of redemption. He came to feed the hungry, and in this connection two verses in the Bible convey light upon His task and its preparation. Isaiah tells us that “Bread corn is bruised,” (lxxx) and Christ Himself told us that “Except a corn of wheat fall into the ground and die, it abideth alone, but if it die, it bringeth forth much fruit.” (lxxxi) This was the destiny awaiting Him when He came to the Birth in Bethlehem. Then He entered upon the career which eventually “bruised” Him and led Him to his death.
Theo bảng chỉ mục nói trên, danh hiệu Mary có nghĩa là “người được Chúa ngợi khen.” Khi nói lên những lời này, chúng ta liên tưởng đến bức tranh nổi tiếng của Mullilo, vẽ Đức Mẹ Đồng trinh, đang đứng trên vầng trăng khuyết, và đang được đưa vào những đám mây trên bầu trời. Đó là sự thăng thiên của Đức Mẹ Đồng trinh đi vào nguồn vinh quang. Cũng có một điều thú vị khác liên quan đến chòm sao Trinh nữ, mà chúng ta có thể bàn ở đây. Trong khoa biểu tượng của nền minh triết ngàn xưa, Mary, Đức Mẹ Đồng trinh tượng trưng
According to the concordance, the name Mary means “the exalted of the Lord.” As one says these words, the famous picture, by Mulillo, of the Virgin, standing on the crescent moon and being gathered up into the clouds of Heaven, comes to mind. Such is the assumption of the Virgin into glory. There is another interesting point in connection with the constellation Virgo, upon which we might touch. Mary, the Virgin, in the symbolism of the ancient wisdom, stands
(lxxviii):
II Tim., II.21.
(lxxviii):
II Tim., II.21.
(lxxix):
St. John, VI.33, 35, 41, 58.
(lxxix):
St. John, VI.33, 35, 41, 58.
(lxxx):
Isaiah, XXVIII.28.
(lxxx):
Isaiah, XXVIII.28.
(lxxxi):
St. John, XII.24.
(lxxxi):
St. John, XII.24.
