để xây bàn thờ; 12 khối đá mang ra khỏi Jordan; 12 con bò đực chở chiếc Bồn bằng Đồng thau. Ngoài ra, trong Kinh Tân ước cũng có son số 12 ngôi sao trên vương miện của cô dâu, 12 nền móng của thành Jerusalem mà Thánh John thấy, và 12 cổng thành.“(xc)
of which the altar was made; by the 12 stones taken out of Jordan; by the 12 oxen which bare the brazen sea. Also in the New Testament, by the 12 stars in the bride's crown, by the 12 foundations of Jerusalem which John saw, and her 12 gates.” (xc)
Tất cả những sự lặp lại con số mười hai này rất có thể là bắt nguồn từ mười hai cung hoàng đạo, vành đai tưởng tượng trong bầu trời mà mặt trời có vẻ du hành trên đó trong thời gian một năm, và trong chu kỳ lâu hơn khoảng 25.000 năm.
All these recurrences of twelve probably have their origin in the twelve signs of the zodiac, that imaginary belt in the heavens through which the sun appears to pass on its journey in the course of a year, and during its greater cycle of approximately 25,000 years.
Khi đã hoàn tất công tác chuẩn bị, đến năm mười hai tuổi, Đức Christ trải qua một kinh nhiệm trực giác, từ Nazareth (nơi hiến dâng) Ngài đi lên Đền thờ. Ở đó, trực giác khiến Ngài có những nhận thức mới mẻ về công tác của mình. Không có chi tiết nào cho thấy Ngài biết rõ về sứ mệnh đó. Ngài không giải thích điều gì với thân mẫu. Ngài bắt đầu làm nhiệm vụ gần nhất của mình, là giảng dạy những người Ngài gặp trong Đền thờ, khiến họ ngạc nhiên trước sự thông hiểu thâm sâu và những lời giải đáp của mình. Mẹ Ngài bối rối và phiền não, bảo Ngài hãy chú ý nghe theo lời của bà và cha Ngài. Thế nhưng, bà chỉ nhận được câu trả lời điềm tĩnh, nói lên với sự xác tín, và do đó mà thay đổi toàn cả cuộc sống của bà: “Mẹ không biết là con phải lo công việc của Cha con hay sao?”(xci) Công việc ấy, khi đã phát triển trong tâm thức của Ngài qua bao năm, với tình thương bao trùm tất cả, đã trở nên rộng lớn hơn là Giáo hội chính thống bình thường có vẻ sẵn lòng chấp nhận.
Having completed the preparatory work, by His twelfth year Christ again underwent an intuitive experience, going up from Nazareth (the place of consecration) to the Temple, where that intuition led Him to a new realisation of His work. There is no sign that He knew in detail what that mission was; He went into no explanations to His Mother. He started to do the work that was the nearest duty, and to teach those whom He found in the Temple, astonishing them with His understanding and His answers. His mother, bewildered and distressed, called His attention to herself and to His father, but only received the calm answer, spoken with conviction, and so changing all life for her: “Wist ye not that I must be about my Father's business?” (xci) That business, as it developed in His consciousness in the passing of the years, became far broader and wider in its all-embracing love than the average orthodox Church seems willing to admit.
CHƯƠNG HAI - Cuộc Điểm đạo Thứ Nhất . . . Sự Giáng sinh ở Bethlehem - Phần 3
CHAPTER TWO - The First Initiation . . . The Birth at Bethlehem - Part 3
Tầm mức của sứ mệnh này dần dần sáng tỏ hơn trong trí não non trẻ của Ngài, và Ngài bắt đầu – như mọi người con của Thượng Đế thực sự là điểm đạo đồ đều phải làm – thực hiện vai trò sứ giả của Thượng Đế, ngay khi nhận biết Linh ảnh, và ở nơi chốn Ngài đang sống. Chúng ta đọc thấy rằng sau khi đã tỏ ra hiểu biết công việc tương lai của mình, “Ngài đi cùng họ (cha mẹ Ngài) đến Nazareth (nơi hiến dâng tiếp tục), và theo lời cha mẹ. . . . Jesus ngày càng thêm khôn ngoan, gia tăng tầm vóc, có lòng thương mến Thượng Đế và con người.”(xcii)
The extent of this mission slowly dawned upon His young mind and He began, as all truly initiate sons of God must perforce do, to function as God's messenger as soon as the Vision was recognised, and in the place where He was. Having thus indicated His grasp of the future work, we read that “He went down with them (His parents), and came to Nazareth (the place of renewed consecration), and was subject unto them…. And Jesus increased in wisdom and stature, and in favour with God and man.” (xcii)
(xc):
Bishop Rabanus Manrus, A.D. 857.
(xc):
Bishop Rabanus Manrus, A.D. 857.
(xci):
St. Luke, II.49.
(xci):
St. Luke, II.49.
(xcii):
St. Luke, II.51, 52.
(xcii):
St. Luke, II.51, 52.
