của kinh nghiệm này. Đó là điều mà mọi người đều phải có, vào thời điểm này hay thời điểm khác.
of this experience. It is something which all must face at some time or other.
Ngày nay, trong thế giới tư tưởng của mình người chí nguyện phải có hai điều nhận thức. Một là sự hiện diện của linh hồn, thực thể sống động mà chúng ta có thể biết và phải biết qua tiến trình làm cho nó sinh ra trên cảnh giới của cuộc sống đời thường. Và hai là, nhất quyết chuyển hướng trọn cả tâm tính của mình, để có thể đồng hóa mật thiết hơn với linh hồn cho đến khi hoàn toàn hợp nhất. Chúng ta bắt đầu thấy điều gì phải làm. Chúng ta bắt đầu giữ thái độ đúng đắn để có thể thực hiện điều đó. Hai phân nửa trong lưỡng nguyên cốt yếu của chúng ta – linh hồn và cơ thể, Christ và Mary, được Chúa Thánh Thần phủ bóng, vật chất và tinh thần – đối diện với nhau, ngày càng tiến gần nhau hơn cho đến khi có sự hợp nhất hoàn toàn, và Đức Christ được sinh ra nhờ phương tiện của Đức Mẹ. Thế nhưng, những bước đầu tiên và ngay trước mắt là chấp nhận ý tưởng thiêng liêng này và định hướng cuộc sống để biến ý tưởng đó thành sự thực.
Two recognitions must emerge into the thought-world of the aspirant of today. First, the presence of the soul, a living entity which can and must be known through the process of bringing it to the birth upon the plane of daily living; and, secondly, the determination to achieve the re-orientation of the entire nature so that a closer identification with that soul may become possible, until a complete unity has been achieved. We begin to see what must be done, we begin to assume the right attitude which will make it possible. The halves of our essential duality—soul and body, Christ and Mary, over-shadowed by the Holy Ghost, the material and the spiritual—face each other and approach nearer and nearer until complete union is achieved and the Christ is born through the instrumentality of the Mother. But the acceptance of this divine idea and the orientation of the life in order to make the idea a fact are the first and immediate steps.
Đức Christ đã dạy điều này, và Ngài cầu nguyện với Đấng Cha Lành để có được điều này.
This, Christ taught, and for this He prayed the Father.
“Con không chỉ cầu nguyện cho những người này (các môn đồ của Ngài), mà còn mong họ tỏ lời tin tưởng nơi con; để tất cả họ có thể là một; thưa Cha, như Ngài đang ở trong con, và con trong Ngài, để họ cũng có thể là một với chúng ta: để thế gian có thể tin rằng Ngài đã sai con đến đây. . . . Con trong họ, và Ngài trong con, để họ có thể trở nên hoàn thiện trong hợp nhất.”(xciv)
“Neither pray I for these alone (His disciples), but for them also which shall believe on me through their word; that they all may be one; as thou, Father, art in me, and I in thee, that they all may be one in us: that the world may believe that thou hast sent me…. I in them, and thou in me, that they may be made perfect in one.” (xciv)
Đây là giáo lý về sự Nhất quán. Thượng Đế hằng hữu trong vũ trụ – là Đấng Christ vũ trụ. Thượng Đế hằng hữu trong nhân loại, hiển lộ qua Đức Christ của lịch sử. Thượng Đế hằng hữu trong cá nhân, sự sống Christ nội tại, là linh hồn.
This is the doctrine of the At-one-ment; God, immanent in the universe—the cosmic Christ. God, immanent in humanity, revealed through the historical Christ. God, immanent in the individual, the indwelling Christ, the soul.
Làm thế nào chân lý này về linh hồn và sự sinh ra lần thứ hai có thể được trải nghiệm, một cách hết sức giản dị và thực tế, để ý nghĩa của nó trở nên rõ ràng, nhờ đó mà chúng ta có thể thực hiện những gì cần thiết? Có lẽ từ những điều phát biểu sau đây:
How can this truth of the soul and the new birth be experienced, so simply and so practically that its meaning can appear, thus enabling us to do that which is needed? Perhaps from the following statements:
1. Tiềm ẩn trong mỗi người là “Linh từ lâm phàm,”
1. Hidden in every human being is the “Word incarnate,”
(xciv):
St. John, XVII.20-23.
(xciv):
St. John, XVII.20-23.
