kiếm chân lý – rõ ràng là đã góp phần vào việc chuẩn bị cho họ đạt đến sự thấu hiểu cuối cùng.“ Ông nói thêm “Trong mỗi trường hợp, họ đều đã thể nghiệm được điều tạm gọi là 'khai ngộ,' vì chưa có từ nào chính xác hơn.” Ông cũng khuyến cáo “cần thận trọng, vì chúng ta có thể gạt bỏ các kinh nghiệm này và xem chúng như những điều lầm lạc…” Thế nhưng, ông nói “những người này không hành động theo cách của những người bị chứng thác loạn hay lầm lẫn. Họ đã đưa ra phần lớn nguồn minh triết tinh thần cho nhân loại. Đương nhiên họ ở trong số những người đã giác ngộ của nhân loại. Nếu (theo lời trong Kinh Thánh) 'bởi trái của họ ngươi sẽ biết được họ,' thì những người này cho đến ngày nay đã cho thấy những thành quả cao hơn mức bình thường rất nhiều, khiến họ trở thành những nhà lãnh đạo tinh thần của nhân loại.”(lxxxix)
part in preparation for their final insight. In every case,” he adds, “they experienced what, for want of a better term, we may call 'illumination'.” He goes on to warn us also that “we may, to be sure, brush these experiences aside as aberrations….” But he says “these men do not act after the manner of men suffering from an aberration. Out of them has come a great portion of the spiritual wisdom of the race. They are, as it where, among the illuminati of mankind. If 'by their fruits ye shall know them,' these men have shown fruits so far above the average as to make them spiritual leaders of mankind.” (lxxxix)
Với nhà thần bí trình độ trung bình, thường có vấn đề khó khăn là họ không có khả năng xác định hay giải rõ trạng thái khai ngộ này, dù không có vấn đề khó khăn này đối với những nhân vật lỗi lạc mà Ts. Overstreet đã nêu. Các Bài giảng ở Bampton năm 1930 có nói: “Nhà thần bí không thể giải thích, nhưng y biết mình đã biết, chứ không chỉ cảm nhận mà thôi, và thường thì y vẫn giữ lại được sự hiểu biết đó mãi mà không sự chỉ trích nào có thể lay chuyển nổi… dù nhà thần bí dường như không thể chuyển đạt được cho những người khác bất cứ phần nào của chân lý mà những kinh nghiệm và suy luận thông thường không thể đạt đến. Tuy nhiên, sự thấu hiểu đặc biệt và sâu xa của họ về thực tại khả dĩ có thể giúp cho vấn đề khó khăn cơ bản của chúng ta trở nên sáng tỏ hơn, giống như những trường hợp cực hạn được dùng để thử mức độ đúng thực của định lý hình học thông thường.”(xc)
The trouble has been that with the average mystic, though not with the outstanding figures to whom Dr. Overstreet refers, there has usually been an inability to define or express clearly this state of illumination. “The mystic,” we are told in the Bampton Lectures for 1930, “cannot explain, but he knows that he has known and not merely felt, and often that knowledge remains an abiding possession which no criticism can touch…though the mystics seem to be unable to convey to others any body of truth which cannot be reached by more ordinary channels of experience and reasoning, it is nevertheless possible that the intensity of their special apprehension of reality may serve, as extreme cases serve to test the truth of some general geometrical theorem, to set our fundamental problem in a clearer light.” (xc)
(lxxxix):
Overstreet, H. A., The Enduring Quest, pp. 238, 239, 240.
(lxxxix):
Overstreet, H. A., The Enduring Quest, pp. 238, 239, 240.
(xc):
Grensted, Rev. L. W., Psychology and God, pp. 203-204.
(xc):
Grensted, Rev. L. W., Psychology and God, pp. 203-204.
