của chúng thành ba trạng thái biểu hiện của Nguồn Sống Thiêng liêng Đại đồng.“ (cxviii)
manifestation of the Universal Divine Being, through their own free, inherent power.” (cxviii)
Thế là chúng ta cũng có cùng một qui trình – hoạt động trí tuệ, chiêm ngưỡng hay nhập định, hợp nhất và khai ngộ.
Thus we have the same procedure — mental activity, contemplation, union and illumination.
Phương pháp của Phật giáo Trung Hoa
The Method in Chinese Buddhism
Một trong những điều chính yếu đẩy nhanh quá trình giác ngộ là hiểu phương cách mà Đức Phật đã tìm được Ánh sáng. Điều này cho thấy hết sức rõ nét việc sử dụng trí tuệ để giải tán vô minh, và sau đó trí tuệ không còn đủ khả năng đưa hành giả đi vào thế giới Ánh sáng và sự sống tinh thần. Ts. Suzuki, Giáo sư Thiền học tại Trường Cao đẳng Phật học Kyoto, cho chúng ta biết điều đó trong những đoạn văn có sức khai ngộ mạnh mẽ sau đây. Ông nói rằng chính qua “sự toàn giác tối thượng” mà Đức Phật đã đạt đến minh triết, giúp Ngài tiến lên từ trình độ Bồ-tát trở thành một vị Phật. Sự hiểu biết này là
One of the main contributions to the process of enlightenment is an understanding of the way in which the Buddha found the Light. It demonstrates in a most remarkable way the use of the mind to overcome ignorance and its subsequent futility to carry a man on into the world of Light and spiritual being. Dr. Suzuki, Professor of Zen Buddhism at the Buddhist College at Kyoto, tells us about it in the following illuminating paragraphs. He tells us that it was through “supreme perfect knowledge” that the Buddha arrived at the wisdom which changed him from a Bodhisattva into a Buddha. This knowledge is
“… khả năng cả về trí tuệ và tinh thần, được linh hồn vận dụng để vượt qua những trở ngại của hoạt động trí tuệ. Hoạt động này bao giờ cũng có tính nhị nguyên vì nó còn ý thức về chủ thể và khách thể. Tuy nhiên, trong Bát-nhã vốn được thực hiện 'kết hợp với cái-thấy-chỉ-trong-một-niệm', không hề có sự phân cách giữa người biết và điều được hiểu biết, mà cả hai đều được nhìn thấy trong một niệm duy nhất, và giác ngộ là kết quả của cái thấy này….
”…a faculty both intellectual and spiritual, through the operation of which the soul is enabled to break the fetters of intellection. The latter is always dualistic inasmuch as it is cognisant of subject and object, but in the Prajña which is exercised 'in unison with one-thought-viewing' there is no separation between knower and known, these are all viewed in one thought, and enlightenment is the outcome of this….
“Thế nên, chúng ta có thể thấy rằng giác ngộ là một trạng thái tuyệt đối của trí tuệ trong đó không hề có sự 'phân biệt'…, và cần có nỗ lực trí tuệ rất lớn để nhận thức được trạng thái
“Enlightenment we can thus see is an absolute state of mind in which no 'discrimination'…takes place, and it requires a great mental effort to realize this state of viewing
(cxviii):
Evans-Wentz, W. Y., Tibet's Great Yogi, Milrepa, pp. 32, 33, 35, 38.
(cxviii):
Evans-Wentz, W. Y., Tibet's Great Yogi, Milrepa, pp. 32, 33, 35, 38.
