nhìn mọi sự 'trong chỉ một niệm' như đã nói trên. Thực ra, cái ý thức luận lý và thực tiễn của chúng ta đang quá bận bịu với việc phân tích và tạo ra các ý niệm. Nói cách khác, chúng ta chia cắt thực tại thành những phần tử để mong hiểu được. Thế nhưng, khi các phần tử được gom lại với nhau để hợp thành cái toàn thể ban đầu, thì các phần tử trở nên quá rõ nét khiến ta không thấy được cái toàn thể 'trong một niệm'. Và hành giả chỉ được giác ngộ khi đạt đến 'một niệm', một cố gắng cần có để vượt cao hơn cái ý thức tương đối và thực nghiệm thông thường…. Thế nên, sự kiện thực tế rất quan trọng ẩn trong cái kinh nghiệm Giác ngộ là Đức Phật đã cố gắng rất nhiều để giải quyết vấn đề Vô minh, và sử dụng năng lực ý chí mạnh mẽ của Ngài để sự phấn đấu này thành công…. Vì thế, muốn đạt sự giác ngộ hành giả phải vận dụng ý chí cũng như trí tuệ. Đây là một tác động của trực giác do ý chí phát sinh…. Đức Phật đạt được mục tiêu này khi ánh sáng thấu ngộ mới mẻ đến với Ngài sau bao lần Ngài suy đi ngẫm lại từ sự hư hoại và sự chết đến Vô minh, và từ Vô minh đến hư hoại và sự chết….. Thế nhưng, ý chí của Ngài rất kiên cường, không hề khuất phục. Ngài muốn dùng nỗ lực cao tột của ý chí để đạt đến chính sự thực của vấn đề. Ngài gõ cửa và tiếp tục gõ cửa cho đến khi những cánh cửa Vô minh phải bật mở, nhường chỗ cho một viễn cảnh mới mẻ mà tầm nhìn trí tuệ của Ngài trước đó chưa hề đạt đến.“ (cxix)
all things 'in one thought'. In fact our logical as well as practical consciousness is too given up to analysis and ideation; that is to say, we cut up realities into elements in order to understand them; but when they are put together to make the original whole, its elements stand out too conspicuously defined, and we do not view the whole 'in one thought'. And as it is only when 'one thought' is reached that we have enlightenment, an effort is to be made to go beyond our relative empirical consciousness….The most important fact that lies behind the experience of Enlightenment, therefore, is that the Buddha made the most strenuous attempt to solve the problem of Ignorance and his utmost will-power was brought forth to bear upon a successful issue of the struggle….Enlightenment therefore must involve the will as well as the intellect. It is an act of intuition born of the will….The Buddha attained this end when a new insight came upon him at the end of his ever-circulatory reasoning from decay and death to Ignorance and from Ignorance to decay and death….But he had an indomitable will; he wanted, with the utmost efforts of his will, to get into the very truth of the matter; he knocked and knocked until the doors of Ignorance gave way; and they burst open to a new vista never before presented to his intellectual vision.” (cxix)
Ở phần trước, ông có nói rằng xét cho cùng việc đạt đến Niết-bàn cốt yếu là nhận thức và khẳng định được Nhất nguyên. Trong bộ luận này ông còn viết:
Earlier he points out that the attainment of Nirvana is after all essentially the affirmation and realization of Unity. In the same essays we find the words:
“Cuối cùng, họ (những người Phật tử) thấy ra rằng Giác ngộ không phải là điều chỉ riêng thuộc về Đức Phật, mà mỗi người trong chúng ta đều có thể đạt được sự giác ngộ nếu người đó loại trừ vô minh bằng cách từ bỏ nhận thức nhị nguyên của mình về cuộc sống và thế giới. Họ cũng kết luận rằng Niết-bàn không phải là tan biến vào một trạng thái tuyệt đối không hiện hữu,
“They (Buddhists) finally found out that Enlightenment was not a thing exclusively belonging to the Buddha, but that each one of us could attain it if he got rid of ignorance by abandoning the dualistic conception of life and of the world; they further concluded that Nirvana was not vanishing into a state of absolute non-existence which
(cxix):
Suzuki, Daisetz Taitaro, Essays in Zen Buddhism, pp. 113-115.
(cxix):
Suzuki, Daisetz Taitaro, Essays in Zen Buddhism, pp. 113-115.
