giữa cái bên ngoài và cái bên trong). Thế là, nhờ con mắt Hiểu biết (Jdâna-chaksus, nhóm từ này có thể được chuyển dịch khá chính xác là 'tuệ giác'), y nhận thức (hay đúng hơn là tri thức, không qua suy lý hay biện luận, mà bằng ý thức trực tiếp và 'đồng ý chấp nhận' ngay) rằng mọi sự vật đều là biểu lộ của Atma, tức là Tinh thần Đại đồng hay Linh hồn Tối cao.“ (cxxii)
any distinction of outer and inner), and thus, by the eye of Knowledge (Jnána-chaksus, an expression which might be rendered fairly accurately as 'intellectual intuition'), he perceives (or rather conceives, not rationally or discursively, but by a direct awareness and an immediate 'assent') that everything is Atma.” (cxxii)
Nhà Yogi, hay là người đã đạt được sự hợp nhất (vì Yoga là khoa học hợp nhất) thực sự biết được chân tính của chính mình. Khi vô minh nhường chỗ cho ý thức siêu việt, y thấy mình đồng nhất với Brahma, là Nguyên nhân Vĩnh cửu, Đấng Duy nhất và là Đấng Độc nhất. Không còn nghi ngờ gì nữa, y tự biết mình chính là Thượng Đế – Thượng Đế hằng hữu trong tâm chúng sinh và Thượng Đế siêu việt của vũ trụ. Bậc tri kiến được điều này còn cho biết thêm rằng
The Yogi, or the one who has achieved union (for Yoga is the science of union) knows himself as he is in reality. He finds, when ignorance gives place to transcendental awareness, that he is identified with Brahma, the Eternal Cause, the One and the Alone. He knows himself to be, past all controversy, God — God immanent and God transcendent. The seer goes on to tell us that
“Y là Brahma Tối cao, vốn vĩnh cửu, thuần khiết, độc nhất (trong sự hoàn thiện tuyệt đối của Ngài), mãi mãi chứa chan Ân phước, không còn dính mắc vào nhị nguyên, là Nguyên lý (không bị chi phối) của toàn cuộc sống biểu hiện, hiểu biết (không có sự Hiểu biết này tức là có sự phân biệt giữa chủ thể và khách thể, hàm ý trái lại với 'tính phi nhị nguyên'), và vô chung'.
“He is 'the supreme Brahma which is eternal, pure, free, alone (in Its absolute perfection), incessantly filled with Beatitude, without duality, (unconditioned) Principle of all existence, knowing (without this Knowledge implying any distinction of subject and object, which would be contrary to 'non-duality'), and without end'.
“Y là Brahma, nhờ đó mà muôn loài được soi sáng (và thụ hưởng tinh hoa của Brahma tùy theo mức biểu lộ thực tính của mỗi loài), là Ánh sáng khiến cho mặt trời chói rạng và tất cả các thiên thể phát quang, nhưng không biểu hiện qua ánh sáng của chúng.
“He is Brahma, by which all things are illumined (partaking of Its essence according to their degrees of reality), the Light of which causes the sun to shine and all luminous bodies, but which is not made manifest by their light.
“Khi được khai ngộ qua tham thiền…. 'Cái Ngã' bừng cháy với lửa Tri thức (nhận biết được rằng trong tinh túy nó vốn đồng nhất với Ánh sáng Tối cao), thoát ly mọi khổ nạn,… và tỏa chiếu trong sự huy hoàng của chính mình như vàng được tinh luyện trong lửa.
“The 'Self' being enlightened by meditation…,then burning with the fire of Knowledge (realizing its essential identity with the Supreme Light), is delivered from all accidents,…and shines in its own splendour like gold which is purified in fire.
“Khi Ngôi Mặt trời Tri thức Tinh thần lên cao trong bầu trời của tâm hồn (tức là ở trung tâm của sự sống…), nó xua tan bóng tối (vô minh đang che án
“When the sun of spiritual Knowledge arises in the heart's heaven (that is to say at the centre of the being…), it dispels the darkness (of ignorance veiling the
(cxxii):
Quoted by Guénon, René, in Man and His Becoming, p. 254.
(cxxii):
Quoted by Guénon, René, in Man and His Becoming, p. 254.
