Thiên Trí và đối với các giới trên hành tinh. Các ý tưởng này xuất phát và tỏa ra từ cõi Bồ Đề, vốn ít khi mở ra với tâm thức của một đệ tử bậc trung và chắc chắn là không mở ra cho sự tiếp xúc của lý tưởng gia bậc trung. Ở đây tôi muốn nhắc bạn rằng có một vài lý tưởng gia, tự bản thân họ đã tiếp xúc được, với ý tưởng đã khai sinh ra chủ nghĩa lý tưởng. Họ chỉ giao tiếp được với việc diễn giải ý tưởng của con người, như một số đệ tử hay kẻ có trực giác đã đưa ra – một điều hoàn toàn khác hẳn.
Mind of God Himself and to the planetary kingdoms. These ideas come from and they emanate from the buddhic plane, which is seldom open to the consciousness of the average disciple and certainly is not open to the contact of the average idealist. I would here remind you that few idealists are personally in touch with the idea which has given birth to the idealism. They are only in touch with the human interpretation of the idea, as formulated by some disciple or intuitive—a very different thing.
Do đó, ảo tưởng có thể được định nghĩa như là hậu quả của một ý tưởng (được diễn dịch thành lý tưởng) được xem như là toàn thể cách trình bày, dưới hình thức tình tiết hoặc giải pháp đầy đủ, được tách ra khỏi và được hình dung một cách độc lập với mọi ý tưởng khác – cả về bản chất tôn giáo hay bề ngoài hoàn toàn không liên hệ gì tới tôn giáo. Trong câu này có hàm ý vấn đề về chia rẽ và về sự bất lực của con người không thể liên kết các hàm ý khác nhau của một ý tưởng thiêng liêng lại với nhau. Khi được hình dung và hiểu theo một nghĩa hẹp và riêng biệt, tất nhiên có sự lệch lạc của chân lý, và vị đệ tử hoặc người tìm đạo tất nhiên tự cam kết với khía cạnh bất toàn của thực tại hay của Thiên Cơ chớ không phải cam kết với chân lý chừng nào mà chân lý có thể được tiết lộ hay với Thiên Cơ như các Thành Viên của Thánh Đoàn đã biết. Ảo tưởng này khơi dậy trong vị đệ tử hay lý tưởng gia một phản ứng tình cảm mà ngay tức khắc nuôi dưỡng cho lòng ham muốn và tất nhiên chuyển ra khỏi cõi trí đi vào cõi cảm dục; như thế dục vọng được khơi dậy vì một lý tưởng còn thiếu sót và không thích hợp và như thế ý tưởng không thể đạt được biểu lộ đầy đủ, vì người theo ý tưởng đó chỉ thấy được một phần lý tưởng như chân lý đầy đủ và do đó không thể hiểu các ý nghĩa về mặt xã hội, hành tinh và cả vũ trụ.
An illusion can, therefore, be defined as the consequence of an idea (translated into ideal) being regarded as the entire presentation, as the complete story or solution and as being separated from and visioned independently of all other ideas—both religious in nature or apparently completely unrelated to religion. In this statement lies the story of separation and of man's inability to relate the various implications of a divine idea with each other. When visioned and grasped in a narrow and separative manner, there is necessarily a distortion of the truth, and the disciple or aspirant inevitably pledges himself to a partial aspect of reality or of the Plan and not to the truth as far as it can be revealed or to the Plan as the Members of the Hierarchy know it. This illusion evokes in the disciple or idealist an emotional reaction which immediately feeds desire and consequently shifts off the mental plane on to the astral; a desire is thus evoked for a partial and inadequate ideal and thus the idea cannot arrive at full expression, because its exponent sees only this partial ideal as the whole truth and cannot, therefore, grasp its social and planetary and its cosmic implications.
Nơi đâu có việc hiểu biết thực sự toàn vẹn ý tưởng (một điều thực sự hiếm có) nơi đó sẽ không có ảo tưởng. Ý tưởng vốn rất bao la hơn là người theo chủ nghĩa lý tưởng nghĩ ra, đến nỗi chỉ có sự khiêm tốn mới cứu vãn được người theo chủ nghĩa lý tưởng ra khỏi sự hẹp hòi. Nơi nào có ảo tưởng (vốn rất thông thường)
Where there is a real grasp of the whole idea (a rare thing indeed) there can be no illusion. The idea is so much bigger than the idealist that humility saves him from narrowness. Where there is illusion (which is usual and commonplace)
