và lập luận đúng đắn – trí tuệ cho thấy những gì nên làm.
and right reasoning—indicates what should be done.
b. Tương phản giữa ảo cảm với giác ngộ.
b. The Contrast between Glamour and Illumination.
Một trong các biểu tượng thích hợp nhất nhờ đó người ta có thể gom lại một số hình ảnh về bản chất của ảo cảm là phác họa lại cõi cảm dục ở ba trong số các phân cảnh của nó (phân cảnh hai, ba và bốn đếm từ trên xuống) giống như vùng đất bị che khuất trong đám sương mù dày với các mật độ khác nhau. Ánh sáng thông thường của kẻ thường nhân, tương tự như đèn pha xe hơi có độ sáng vừa đủ cho chúng, chỉ dùng để làm rõ thêm nỗi khó khăn và không thể đi sâu vào đám sương mù. Nó chỉ phóng ánh sáng vào để làm nổi rõ độ dày của sương mù và rồi hiệu quả ngăn chận của sương mù trở nên rõ ràng thêm. Tình trạng sương mù lộ rõ ra – nhưng chỉ có thế. Sự việc cũng giống như thế trên cõi cảm dục có liên quan đến ảo cảm; ánh sáng vốn có sẵn trong con người, tự gây ra và tự phát sinh, bao giờ cũng không thể đi sâu vào hay xua tan được cái tranh tối tranh sáng và tình trạng khí độc của sương mù.
One of the aptest symbols by which one can gather some picture of the nature of glamour is to picture the astral plane on three of its levels (the second, third and fourth, counting from the top downwards) as a land shrouded in a thick fog of varying densities. The ordinary light of the ordinary man, which is similar to the headlights of a car and their self-sufficient blaze, serves only to intensify the problem and fails to penetrate into the mists and the fog. It simply throws it into relief so that its density and its deterring effects become the more apparent. The condition of fog is revealed—but that is all. So it is on the astral plane in relation to glamour; the light which is in man, self-induced and self-generated, fails ever to penetrate into or to dissipate the gloom and the foggy miasmic conditions.
Ánh sáng duy nhất có thể xua tan sương mù ảo cảm và đưa sự sống thoát khỏi các hậu quả bệnh hoạn là ánh sáng của linh hồn, mà – giống như tia sáng thuần khiết có tính tẩy rửa – ánh sáng này có được tính chất kỳ lạ và độc đáo của sự thiên khải, của việc làm tiêu tan tức thì và của sự giác ngộ. Sự thiên khải được ban xuống đó khác hẳn với sự thiên khải nhờ trực giác vì đó là sự thiên khải về những gì mà ảo cảm che lấp, ẩn giấu, vốn là sự thiên khải độc đáo cho cõi cảm dục và được chi phối bằng các định luật của cõi ấy. Việc sử dụng đặc biệt ánh sáng linh hồn này khoác hình thức của sự tập trung ánh sáng (phát ra từ linh hồn, xuyên qua thể trí) dựa vào tình trạng ảo cảm – riêng biệt hay đặc thù, hay tổng quát và khắp nơi – để cho bản chất của ảo cảm được khai mở, tính chất và nền tảng của nó được tìm ra và sức mạnh của nó đi đến chỗ tàn tạ nhờ giai đoạn định trí lâu dài, bền bĩ vốn được đưa ra để xua tan tình huống đó.
The only light which can dissipate the fogs of glamour and rid the life of its ill effects is that of the soul, which—like a pure dispelling beam—possesses the curious and unique quality of revelation, of immediate dissipation, and of illumination. The revelation vouchsafed is different to that of the intuition for it is the revelation of that which the glamour veils and hides, which is a revelation unique to the astral plane and conditioned by its laws. This particular utilisation of soul light takes the form of a focussed concentration of the light (emanating from the soul, via the mind) upon the state of glamour—particular or specific, or general and world-wide—so that the nature of the glamour is revealed, its quality and basis is discovered, and its power is brought to an end by a steady, prolonged period of concentration which is given to the dispelling of the condition.
