các nguyên nhân tạo ra thất vọng sâu xa và các mặc cảm tự ty nặng nề làm cho một số người hoàn toàn trở thành vô tích sụ hay là sau rốt đưa đến việc tự tử. Các ảo cảm cá nhân của riêng họ ràng buộc họ vào ảo cảm quốc gia hoặc ảo cảm hành tinh và như thế chi phối quá trình hiển lộ trong cuộc sống của họ và sự suy tư của họ. Tôi yêu cần bạn ghi nhớ điều này khi bạn đối xử với mọi người và tìm ra các ảo cảm nằm trong ý tưởng của họ và không thể để cho họ thấy được chân lý như bạn nhìn thấy vậy. Họ vẫn giữ bản chất của họ vì ảo cảm cá nhân của họ được nuôi dưỡng bằng các ảo cảm lớn hơn, và ảo cảm này cho đến nay trở thành quá nhiều đối với họ.
causes of the deep depression and those profound inferiority complexes which render some people completely futile or lead eventually to suicide. Their own personal glamours tie them in to national or planetary glamour and thus condition their life expression and their thinking. I would ask you to remember this as you deal with people and find them set in their ideas and unable to see the truth as you see it. They are as they are because their individual glamour is fed by the greater glamours, and this is as yet too much for them.
Tôi không có ý định chỉ riêng bàn đến các huyễn cảm đặc thù này, mà chỉ muốn trao cho bạn một công thức mà – với một ít thay đổi và bổ sung – có thể phụng sự cho cá nhân và nhóm với nhiệm vụ là xóa tan ảo cảm. Tôi xin bắt đầu bằng cách nói rằng nhu cầu trước tiên đối với con người là hiểu được rằng các phản ứng, các ý tưởng, các ham muốn và kinh nghiệm trong cuộc sống của con người nếu nói về bản chất tình cảm, đang bị chi phối một hay nhiều ảo cảm, thì y vẫn còn là nạn nhân của nhiều ảo cảm, đã nảy sinh qua nhiều kiếp sống, mọc rễ sâu vào lịch sử quá khứ của y mà y phản ứng lại theo bản năng. Tuy nhiên, sẽ đến lúc mà đệ tử dự bị trở nên biết được các ảo cảm có tính chất bản năng này và biết được chúng ở bề ngoài, thậm chí có khi phản ứng lại với chúng; con người tìm cách tự giải thoát cho mình, lúc đầu y hoạt động không đều đặn, cố gắng dùng thể trí để nhờ lý lẽ vượt ra khỏi các ảo cảm và dao động giữa sự thành công tạm bợ, khi con người có thể hành động một cách thận trọng y như khi thoát khỏi ảo cảm và những giai đoạn dài chịu thất bại khi bị lấn áp, không thể thấy được ánh sáng ở nơi đâu và hành động như người mù, hoang mang. Điều này cho thấy rằng y bị thu hút giống như bởi một nam châm (sức mạnh của ảo cảm từ xưa chất chứa lại với các hậu quả của nghiệp báo) vào giữa chính ảo cảm mà y muốn tìm cách tránh né. Sau đó đến giai đoạn (do kết quả của tiến trình dao động) khi sức lôi kéo của linh hồn bắt đầu hóa giải sức lôi kéo của các ảo cảm này: y
It is not my intention to deal specifically with particular glamours but to give you a formula which—with slight changes and additions—can serve the individual and the group in the task of eradicating glamour. I would begin by saying that the first need is for the man to realise that his reactions, ideas, desires and life experience, as far as his emotional nature is concerned, are conditioned by some one glamour or glamours, that he is the victim of several glamours, engendered over many lives, deeply rooted in his past history, and to which he instinctually reacts. The time, however, comes when the probationary disciple becomes aware of these instinctual glamours and recognises them on appearance, even when reacting to them; he seeks to free himself, working at first spasmodically, trying to use the mind to rationalise himself out of them and alternating between temporary success, when he can with deliberation act as if free from glamour, and long periods of defeat when he is overwhelmed, can see no light anywhere and acts like a blind, bewildered person. This indicates that he is drawn as by a magnet (the force of accumulated ancient glamour with its karmic effects) into the midst of the very glamour he would seek to avoid. Later comes the stage (a result of this alternating process) when the pull of the soul begins to offset the pull of these glamours: he
