và nhận thức bằng trí tuệ việc làm tan biến ảo cảm được dự tính. Việc này được gọi là Tác động định hướng.
and realising mentally the work of dissipation it is intended to do. This is called the Act of Direction.
6. Tiếp theo là vài phút tạm ngưng; trong giây phút đó, nhóm cố gắng phóng tiếp theo sau ngọn đèn rọi cái ý định hay ý chí mạnh mẽ, và theo một hướng thống nhất; hành động này mang theo tia sáng được phóng xuất kia cái tính chất hủy diệt của ý chí tinh thần − hủy diệt tất cả những gì ngăn cản việc biểu lộ thiên tính (divinity). Điều này có thể làm được bằng cách đạt đến điểm nhất tâm hợp nhất và sự dâng hiến ý chí của cá nhân và của nhóm cho ý chí của Thượng Đế. Giai đoạn này được gọi là Tác Động của Ý Chí và được tiến hành bởi mỗi thành viên của nhóm một cách im lặng và với một nhận thức sâu xa rằng tất cả đều được chấp nhận như thế và đó là ý chí của nhóm vốn được tập trung một cách im lặng. Bấy giờ họ đồng thanh nói:
6. Then follows a pause for a few minutes in which the group attempts to throw behind the searchlight their united directed and dynamic will or intent; this carries along the projected beam of light the destructive quality of the spiritual will—destructive to all that hinders the manifestation of divinity. This is done by attaining a united point of tension, and the dedication of the individual and group will to the will of God. This is called the Act of Will and is carried on by each member of the group silently and with a deep realisation that all are thus accepted and that it is the group will which is being silently focussed. Then together they say:
“Với sức mạnh trên tia sáng, ánh sáng được tập trung vào mục tiêu”.
“With power upon its beam, the light is focussed on the goal.”
7. Kế đến là Tác Động Phóng Xuất và thốt lên các quyền lực từ mà − lại đặt tên là ảo cảm đặc biệt vốn là đối tượng chú tâm và như vậy, một cách quyết tâm, đưa đối tượng đó vào mối liên hệ với ánh sáng có tập trung − bắt đầu việc xua tan huyễn cảm.
7. Then comes the Act of Projection and the saying of the words of power which—again naming the particular glamour which is the subject of attention and thus bringing it consciously into relation with the focussed light—begins the task of dissipation.
“Sức mạnh của ánh sáng hợp nhất của chúng ta ngăn chận sự xuất hiện ảo cảm về …(đọc lên tên ảo cảm). Sức mạnh của ánh sáng hợp nhất của chúng ta làm vô hiệu tính chất của ảo cảm, không cho tác động đến con người. Sức mạnh của ánh sáng hợp nhất của chúng ta hủy diệt sự sống đàng sau ảo cảm”.
“The power of our united light prevents the appearance of the glamour of … (naming it). The power of our united light negates the quality of the glamour from affecting men. The power of our united light destroys the life behind the glamour.”
Các lời lẽ này rất gần giống như các lời trong phương thức cá nhân và nhận được sức mạnh do kinh nghiệm của người tìm đạo và do quen sử dụng các lời lẽ đó. Giai đoạn này tạo ra Tác Động Xác Định
These words are very nearly the same as those in the individual formula and gain strength from the experience of the aspirant and from his familiarity with their use. This constitutes an Act of Affirmation
