sau rốt được phát triển một cách đầy đủ trên Cõi Trần, do tác động của con người.
is finally and fully developed on Earth, through the agency of humanity.
TIẾT BA - CHẤM DỨT ẢO CẢM - Phần 4
SECTION THREE - THE ENDING OF GLAMOUR - Part 4
Hỡi huynh đệ, về mặt huyền linh, thì ý chí và hơi thở (will and breath) là các tên gọi đồng nghĩa. Trong cách nói này, bạn có manh mối để chấm dứt ảo lực (maya).
The will and the breath, my brother, are occultly synonymous terms. In this statement you have the clue to the ending of maya.
Các ghi nhận nêu trên là các mở đầu cho việc nghiên cứu của chúng ta về Phương Pháp Điềm Nhiên (Technique of Indifference). Cần nêu ra các tương đồng để liên kết các khía cạnh khác nhau của các giáo huấn được đề cập nếu nhận thức đích thực được phát triển. Chúng ta hãy chia việc xem xét của chúng ta về đề tài này như sau:
The above remarks are preliminary to our study of the Technique of Indifference. It is necessary to point out analogies and to link together the various aspects of related teaching if true perception is to be developed. Let us divide our consideration of this subject as follows:
1. Hoạt động trên cõi dĩ thái, nghĩa là cõi của các lực.
1. Activity upon the etheric plane, i.e., the world of forces.
a. Sự phân phối các lực.
a. Their distribution.
b. Việc vận dụng các lực.
b. Their manipulation.
2. Khoa học về Hơi Thở (Science of the Breath).
2. The Science of the Breath.
a. Liên hệ của ý chí và hơi thở.
a. The relation of the will and the breath.
b. Nguồn linh hứng.
b. Inspiration.
3. Phương pháp Điềm Nhiên.
3. The Technique of Indifference.
a. Nhờ định trí (concentration).
a. Through concentration.
b. Nhờ từ bỏ (detachment).
b. Through detachment.
Bây giờ chúng ta đi vào lãnh vực huyền linh học thực tiễn. Đây không phải là lãnh vực của đạo tâm hoặc lãnh vực của hoạt động có sắp xếp hướng về những gì cao siêu và đáng ưa chuộng. Ở một số cách thức, thì đây là một hoạt động đảo ngược. Từ mức độ đã đạt được trên thang tiến hóa, vị đệ tử “trụ lại trong Bản Thể Tâm Linh” (bao giờ cũng có sẵn trong y), và một cách có ý thức, có cân nhắc, hoạt động với năng lượng trong ba cõi thấp. Vị đệ tử hướng cho chúng vào thể dĩ thái từ bất cứ cõi nào mà y chọn để hành động − cõi trí, cõi tình cảm hoặc từ chính cõi sinh lực. Y làm điều này phù hợp với một ý tưởng đã được hình dung nào đó, một lý tưởng được ưa thích nào đó, một kiểu mẫu thiêng liêng được cảm nhận nào đó, một hy vọng tâm linh nào đó, một tham vọng được thánh hóa hoặc một ước muốn hiến dâng nào đó.
We enter now the field of practical occultism. This is not the field of aspiration or the sphere of a planned moving forward towards that which is higher and desirable. It is, in some ways, a reverse activity. From the point reached upon the ladder of evolution, the disciple “stands in spiritual Being” (as far as in him lies), and consciously, deliberately works with the energies in the three worlds. He directs them into the etheric body from whatever level he chooses to work—mental, emotional, or from the vital plane itself. He does this in conformity with some visioned idea, some cherished ideal, some sensed divine pattern, some spiritual hope, some consecrated ambition or some dedicated desire.
