và như thế chi phối sự sống của vị đệ tử trên các phân cảnh dĩ thái. Từ đó, sau rốt chúng chi phối cuộc sống ở cõi trần của vị đệ tử.
and thus condition the life of the disciple upon etheric levels. From there, they eventually condition his physical plane life.
Ở đây tôi không có ý định đưa ra bất cứ bài tập thở nào mà các đệ tử hoặc người tìm đạo có thể sử dụng − hay có thể lạm dụng. Trách nhiệm đầu tiên của họ là phải biết được các xung lực (impulses) trong chính họ, vốn có thể thôi thúc các bí huyệt hoạt động và như thế tạo ra các tình trạng và các biến cố trên cõi trần. Khi các xung lực này được thiết lập vững chắc và rõ ràng trong ý thức trí tuệ (mind consciousness) của vị đệ tử, bây giờ không gì có thể ngăn chận chúng hiện ra rõ ràng vào đúng thời điểm. Nhưng các xung lực đó phải tuân theo một tiến trình tụ sinh (process of gestation) được ấn định và sự xuất hiện đã chọn.
I have no intention here of giving any breathing exercises which disciples or aspirants could use—or, more probably, misuse. Their first responsibility is to become aware of the impulses within themselves which could galvanise the centres into activity and so produce conditions and events upon the physical plane. When these are clear and firmly established in the mind consciousness of the disciple, nothing can then stop their emergence in due time into the light of day. But they must follow an ordered process of gestation and of timed appearance.
Khi nào có được lý tưởng chân chính, tư tưởng đúng đắn, cộng với sự hiểu biết về hiện thể biểu lộ và thế giới của các lực mà ý tưởng phải được đưa vào, bấy giờ đạo sinh có thể noi theo một cách an toàn một số bài tập thở đã được đưa ra và giai đoạn hai hay là kết quả của cách thở nhịp nhàng lành mạnh sẽ hiện ra. Đây là sự hít vào (Inspiration).
When there is true idealism, right thought, plus an understanding of the vehicle of expression and the world of forces into which the idea has to be launched, then the student can safely follow certain scheduled breathing exercises and the second phase or the result of sound rhythmic breathing will appear. This is Inspiration.
Hỡi huynh đệ, các bài tập thở có một hiệu quả sinh lý thuần túy khi không được tư tưởng hướng dẫn, thúc đẩy hay khuyến khích, và khi các bài tập đó không phải là kết quả của người tìm đạo khi đạt đến và liên kết với một điểm nhất tâm bất loạn. Một cách ổn định, trong khi tiến trình hít vào và thở ra (inhalation and exhalation) được tiến hành, thì một đường lối rõ rệt để suy tư một cách linh hoạt phải được giữ sao cho hơi thở (khi nó được đưa ra) có đủ tư cách và đủ điều kiện bằng một ý tưởng nào đó. Đây chính là điểm mà người tìm đạo bậc trung thường không làm được. Thường thường người tìm đạo rất bận bịu với tiến trình điều khiển cách thở và vì thế họ mong mỏi có được một vài kết quả phi thường, đến nỗi mục đích thiết thực của cách thở bị quên đi; cách thở này là để mang lại năng lượng và đưa thêm phẩm chất/đặc tính (quality) vào sự sống của các bí huyệt qua phương tiện của một ý tưởng nào đó, được đưa ra và phóng xuất ra, để diễn tả một khái niệm nào đó được cảm nhận và xác định. Khi thiếu bối cảnh của tư tưởng có tính lý tưởng này, bấy giờ các kết quả của cách thở sẽ gần như là không có, hay là –
Breathing exercises, my brother, have a purely physiological effect when not impelled or motivated by directed thought and when they are not the result of the aspirant attaining and adhering to a point of tension. Steadily, whilst the process of inhalation and exhalation is being carried forward, a clear line of active thinking must be preserved so that the breath (as it is sent out) is qualified and conditioned by some idea. It is here that the average aspirant fails so often. He is usually so intensely preoccupied with the process of directing breathing and so expectant of some phenomenal results, that the living purpose of the breath is forgotten; this is to energise and add quality to the life of the centres through the medium of some projected and presented thought, expressing some sensed and determined idea. Where this background of idealistic thought is lacking, then the results of the breath will be practically nil or—
