Trong các thuật ngữ này có ẩn ý tưởng về một sự hiện tồn bất tử, một Thực thể thiêng liêng, một đại trung tâm hỏa năng, và sự bừng nở toàn vẹn của cuộc tiến hoá, và ta phải xem xét chúng theo ý nghĩa đó.
seeks to materialise them unduly. The thought of an immortal existence, of a divine Entity, of a great centre of fiery energy, and of the full flower of evolution, lies hidden in these terms, and they must be thus considered.
Vào cuộc điểm đạo thứ tư, điểm đạo đồ được đối diện với sự Hiện hữu của trạng thái nơi chính y, gọi là “Cha ở trên Trời.” Y được đối diện với Chân thần của chính mình, là tinh hoa thuần khiết của tinh thần trên cảnh giới cao siêu thứ nhì, đối với Chân nhân hay chân ngã cũng giống như Chân nhân đối với phàm nhân hay phàm ngã vậy.
At the fourth initiation, the initiate is brought into the Presence of that aspect of Himself which is called “His Father in Heaven.” He is brought face to face with his own Monad, that pure spiritual essence on the highest plane but one, which is to his Ego or higher self what that Ego is to the personality or lower self.
Chân thần đã tự biểu hiện trên cõi trí qua ba trạng thái của Chân nhân, nhưng tất cả những trạng thái của trí tuệ, như chúng ta biết, nay không còn nữa. Vị Thần thái dương từ trước đến giờ y tiếp xúc, nay đã triệt thoái, và hình thể vị này dùng để hoạt động (thể của chân nhân hay thể nguyên nhân) nay đã tiêu tan, chẳng có gì còn lại ngoại trừ bác ái-minh triết và ý chí mãnh liệt vốn là đặc trưng chủ yếu của Tinh thần. Phàm ngã đã phục vụ xong các mục đích của Chân nhân, và đã bị loại bỏ; Chân nhân cũng đã phục vụ xong các mục đích của Chân thần và không còn cần thiết; nay điểm đạo đồ trở nên tự do đối với cả hai và hoàn toàn giải thoát, có thể tiếp xúc với Chân thần, như trước kia y đã học cách tiếp xúc với Chân nhân vậy. Thời gian còn lại để hiện diện trong tam giới, y chỉ chịu sự chi phối của ý chí hay mục đích tự đề xuất, tạo ra thể biểu hiện của y để tự quyết định thời cơ hoạt động của chính mình (trong các giới hạn nghiệp quả). Nghiệp quả đề cập ở đây là nghiệp quả hành tinh, chứ không phải nghiệp quả cá nhân.
This Monad has expressed itself on the mental plane through the Ego in a triple fashion, but now all aspects of the mind, as we understand it, are lacking. The solar angel hitherto contacted has withdrawn himself, and the form through which he functioned (the egoic or causal body) has gone, and naught is left but love-wisdom and that dynamic will which is the prime characteristic of Spirit. The lower self has served the purposes of the Ego, and has been discarded; the Ego likewise has served the purposes of the Monad, and is no longer required, and the initiate stands free of both, fully liberated and able to contact the Monad, as earlier he learned to contact the Ego. For the remainder of his appearances in the three worlds he is governed only by will and purpose, self-initiated, and creates his body of manifestation, and thus controls (within karmic limits) his own times and seasons. The karma here referred to is planetary karma, and not personal.
Vào cuộc điểm đạo thứ tư này, y tiếp xúc với trạng thái bác ái của Chân thần, và với trạng thái ý chí vào cuộc điểm đạo thứ năm; do thế y hoàn tất các giao tiếp, ứng đáp được tất cả các rung động cần thiết, và là chủ nhân trên năm cảnh giới tiến hoá của nhân loại.
At this fourth initiation he contacts the love aspect of the Monad, and at the fifth the will aspect, and thus completes his contacts, responds to all necessary vibrations, and is master on the five planes of human evolution.
Ngoài ra, ngay trong các cuộc điểm đạo thứ ba, thứ tư và thứ năm, y cũng trở nên ý thức được “Đấng Hằng Hữu” bao gồm ngay cả Thực thể tinh thần, là Chân thần của Chính y.
Further, it is at the third, the fourth, and the fifth initiations that he becomes aware also of that “Presence” which enfolds even that spiritual Entity, his own Monad.
