và giáo lý, thần học và những khẳng định có tính giáo điều, không nhất thiết bày tỏ được chân lý như vốn hiện hữu trong trí của Thượng Đế, là Thiên trí mà đa số các nhà luận giải theo giáo điều quả quyết rằng họ hiểu rõ. Thần học chỉ là những gì mà người ta nghĩ là có trong Thiên trí.
and doctrines, theology and dogmatic affirmations, do not necessarily indicate the truth as it exists in the mind of God, with Whose mind the majority of dogmatic interpreters claim familiarity. Theology is simply what men think is in the mind of God.
Kinh sách càng cổ xưa, tất nhiên càng dễ bị sai lệch. Những lệch lạc đó là giáo lý về một vị Thượng Đế đầy ý muốn báo thù; giáo lý về sự trừng phạt trong một loại địa ngục theo thần thoại; lời dạy rằng Thượng Đế chỉ thương yêu những ai trình bày về Ngài theo một trường phái tư tưởng thần học; ý nghĩa biểu tượng của sự hy sinh bằng máu huyết; sự chiếm dụng Thánh giá làm biểu tượng của riêng Thiên Chúa giáo; giáo huấn về sự Giáng sinh qua Đức Mẹ Đồng Trinh; và hình ảnh của một vị Thần linh giận dữ, chỉ được xoa dịu bằng sự chết. Đó là những kết quả đáng buồn do lối suy nghĩ của chính con người, do phàm tính của họ, do tính biệt lập bè phái của họ (được nuôi dưỡng trong Kinh Cựu Ước của Do Thái, nhưng nói chung không có trong các tín ngưỡng Á Đông), và do cảm thức sợ hãi, bắt nguồn từ phương diện thú tính trong họ. Tất cả những điều vừa kể đều được nuôi dưỡng và ghi khắc bởi thần học, chứ không bởi Đức Christ, hay Đức Phật, hoặc Shri Krishna.
The more ancient the Scripture, the greater, necessarily, the distortion. The doctrine of a vengeful God, the doctrine of retribution in some mythical hell, the teaching that God only loves those who interpret Him in terms of some particular school of theological thought, the symbolism of the blood sacrifice, the appropriation of the Cross as a Christian symbol, the teaching about the Virgin Birth and the picture of an angry Deity only appeased by death are the unhappy results of man's own thinking, of his own lower nature, of his sectarian isolationism (fostered by the Jewish Old Testament, but not generally found in the Oriental faiths) and of his sense of fear, inherited from the animal side of his nature—all these are fostered and inculcated by theology but not by Christ, or the Buddha or Shri Krishna.
Những cái trí nhỏ bé của con người, qua các giai đoạn tiến hóa từ trước đến nay của chúng, hiện không thể và không bao giờ hiểu được trí tuệ và mục đích của Đấng mà chúng ta sống, di chuyển và hiện tồn trong Ngài. Chúng đã diễn giải về Thượng Đế trong phạm vi hẹp hòi của mình. Vì thế, khi người ta chấp nhận một giáo điều mà không suy xét kỹ, tức là họ chấp nhận quan điểm của một người khác khả dĩ sai lầm, chứ không phải là chấp nhận chân lý thiêng liêng. Đây chính là chân lý mà các chủng viện thần học phải bắt đầu giảng dạy, giúp học viên biết tự mình suy nghĩ, và nhớ rằng bí quyết tìm kiếm chân lý là dùng sức mạnh thống nhất của Tôn giáo Đối chiếu. Chỉ những nguyên lý và chân lý nào được mọi người công nhận và có trong mọi tôn giáo mới thực cần thiết cho sự cứu rỗi. Những chân lý đã được trình bày có tính thứ yếu và gây tranh cãi
The little minds of men at their past and present stages of evolution cannot today and never have comprehended the mind and the purposes of the One in Whom we live and move and have our being; they have interpreted God in terms of themselves; therefore when men unthinkingly accept a dogma, they are only accepting the point of view of some other fallible human being, and are not accepting a divine truth at all. It is this truth that theological seminaries must begin to teach, training their men to think for themselves and to remember that the key to truth lies in the unifying power of Comparative Religion. Only those principles and truths which are universally recognized and which find their place in every religion are truly necessary to salvation. The secondary and controversial line of presented
