thì thường là không cần thiết hoặc chỉ có ý nghĩa đến mức chúng hỗ trợ chân lý chính yếu và cốt yếu.
truths is usually unnecessary or significant only in so far as it buttresses the primary and essential truth.
Chính việc trình bày chân lý một cách lệch lạc này đã khiến nhân loại đưa ra các giáo lý mà Đức Christ dường như không hề biết đến. Ngài chỉ mong mọi người nhận thức rằng Thượng Đế là bác ái, rằng tất cả họ là con của Đấng Từ Phụ duy nhất, và vì thế là anh em với nhau, rằng tinh thần của con người là vĩnh cửu và không hề có sự chết. Ngài mong sao Đấng Christ trong tâm mọi người (tâm thức Christ bẩm sinh khiến chúng ta hợp nhất với nhau và với Đức Christ) sẽ bừng nở trong ánh vinh quang trọn vẹn. Ngài dạy rằng phụng sự là chủ âm của cuộc sống tinh thần, và ý chí của Thượng Đế sẽ được hiển lộ. Đây không phải là những điều mà các nhà luận giải đã viết. Họ đã bàn thảo một cách nhàm chán về mức độ của thiên tính và nhân tính nơi Đức Christ, bản chất của sự Giáng sinh qua Đức Mẹ Đồng Trinh, về chức năng của Thánh Paul với tư cách huấn sư chân lý Thiên Chúa giáo, tính chất của địa ngục, tính xác thực và tính lịch sử của Kinh Thánh.
It is this distorted presentation of truth which has led humanity to the formulation of a body of doctrines about which Christ apparently knew nothing. Christ cared only that men should recognize that God is love, that all men are the children of the one Father and, therefore, brothers; that man's spirit is eternal and that there is no death; He longed that the Christ within every man (the innate Christ consciousness which makes us one with each other and with Christ) should flower forth in all its glory; He taught that service was the keynote of the spiritual life and that the will of God would be revealed. These are not the points about which the mass of commentators have written. They have discussed ad nauseam how far Christ was divine and how far He was human, the nature of the Virgin Birth, the function of St. Paul as a teacher of Christian truth, the nature of hell, salvation through blood, and the authenticity and historicity of the Bible.
Ngày nay, tâm trí mọi người nhận thức được sự khởi đầu của tự do. Họ thấy rằng mỗi người phải được tự do thờ kính Thượng Đế theo lối riêng của mình. Điều đó không có nghĩa là (trong thời đại mới sắp đến) mỗi người sẽ chọn theo một trường phái thần học nào đó. Trí tuệ của họ đã được Thượng Đế soi sáng sẽ tìm kiếm chân lý, và họ tự diễn giải nó cho chính mình. Những ngày tháng của thần học đã qua rồi, và nay chúng ta đang ở trong thời kỳ chân lý sống động. Điều này bị các giáo hội chính thống chối bỏ, không công nhận. Chân lý vốn không gây tranh cãi. Khi có tranh cãi, tức là khái niệm đó thường có tầm quan trọng thứ yếu, và hầu như là gồm các quan niệm của con người về chân lý.
Today men's minds are recognizing the dawn of freedom; they are realizing that every man should be free to worship God in his own way. This will not mean (in the coming new age) that every man will pick a theological school to which he will choose to adhere. His own God-illumined mind will search for truth and he will interpret it for himself. The day of theology is over and that of a living truth is with us. This the orthodox churches refuse to recognize. Truth is essentially non-controversial; where controversy emerges, the concept is usually secondary in importance and consists largely of men's ideas about truth.
Mọi người hiện nay ngày càng từ bỏ các giáo điều và giáo lý; đây là điều tốt, đúng đắn, và đáng khích lệ. Nó có nghĩa là tiến bộ, nhưng các giáo hội vẫn chưa thấy được trong đó có tác động của thiên tính. Tự do
Men have gone far today in the rejection of dogmas and doctrine and this is good and right and encouraging. It signifies progress, but, as yet, the churches fail to see in this the workings of divinity. Freedom of
