những người có suy tư lành mạnh, và chân thực. Không ai có phần nào khả năng suy luận, hay thực lòng tin vào Đấng Thượng Đế bác ái, mà chấp nhận cõi thiên đàng của các giáo sĩ, hoặc có ý gì mong đến đó. Họ càng không chấp nhận “cái hồ lửa với lưu hoàng” và sự tra tấn không hề dứt mà người ta cho rằng một vị Thượng Đế bác ái lại dùng để trừng phạt tất cả những ai không tin vào các diễn giải thần học của thời Trung Cổ, của những người theo trào lưu chính thống cận đại, hay các giáo sĩ—là những kẻ dùng giáo lý, nỗi sợ hãi và đe dọa, để giữ dân chúng đi theo giáo huấn cũ kỹ, lỗi thời.
sane, sincere, thinking people. No one of any true reasoning power or with any true belief in a God of love accepts the heaven of the churchmen or has any desire to go there. Still less do they accept the “lake that burneth with fire and brimstone” or the everlasting torture to which a God of love is supposed to condemn all who do not believe in the theological interpretations of the Middle Ages, of the modern fundamentalists or of the churchmen who seek—through doctrine, fear and threat—to keep people in line with the obsolete old teaching.
Chân lý cốt yếu thì khác. “Ai gieo giống gì, gặt giống ấy” là chân lý cần được chú trọng nhiều hơn nữa. Qua những lời này, Thánh Paul nói lên giáo huấn cổ xưa và chân thực về Luật Nhân Quả, mà ở Á Đông gọi là Luật Nghiệp quả. Ở nơi khác ông còn đưa ra thêm huấn thị “hãy tự thực hiện việc cứu rỗi chính mình”. Nói như thế, tức là ông đi ngược lại giáo huấn thần học. Hơn nữa, vì việc cứu rỗi không thể thực hiện trong chỉ một kiếp sống, nên ông hoàn toàn tán thành Luật Tái sinh. Ông cho thấy trường đời là kinh nghiệm tái diễn liên tục, cho đến khi con người (tức là mọi người) làm tròn huấn lệnh của Đức Christ “Vì thế, hãy trở nên hoàn thiện như Cha của bạn ở trên trời hoàn thiện”. Qua nhận thức về kết quả của hành động—tốt hay xấu—và qua việc tái sinh liên tục ở trần gian, rốt cuộc mỗi người đạt được “tầm mức thành tựu viên mãn của Đức Christ”.
The essential truth lies elsewhere. “Whatsoever a man soweth that shall he also reap” is the truth which needs re-emphasizing. In these words, St. Paul phrases for us the ancient and true teaching of the Law of Cause and Effect called in the Orient, the Law of Karma. To that, he adds in another place the injunction to “work out your own salvation” and—as that contradicts the theological teaching and above all else is not possible to do in any one life—he implicitly endorses the Law of Rebirth, and makes the school of life a constantly recurring experience until man has fulfilled the command of the Christ (and this refers to every man) “Be ye, therefore, perfect, even as your Father in Heaven is perfect”. Through recognition of the results of action—good or bad—and through constant reliving upon the earth, man eventually attains “unto the measure of the stature of the fullness of the Christ”.
Sự thực về thiên tính bẩm sinh này cho thấy vì sao trong tâm hồn mỗi người bao giờ cũng có sức thôi thúc muốn được cải thiện, thêm nhiều kinh nghiệm, tiến bộ, nhận thức sâu xa hơn, và liên tục hướng đến những gì cao đẹp mà họ đã dự kiến. Không cách giải thích nào khác về năng lực của tinh thần con người có thể thoát ra khỏi bóng tối, điều tà vạy, và sự chết, để đi vào sự sống và lành thiện. Sự vượt thoát này bao giờ cũng là lịch sử của nhân loại. Một điều gì đó
The fact of this innate divinity explains the urge at the heart of every man for betterment, for experience, for progress, for increasing realization and for his steady moving on towards the distant height which he has visioned. There is no other explanation of the capacity of the human spirit to emerge out of darkness, out of evil and death into life and goodness. This emergence has been the unfailing history of man. Something is
