sự việc đã xảy ra—nhờ tác động và ý chí của Thượng Đế, Đấng Sáng tạo, Thượng Đế siêu việt—ảnh hưởng đến người nguyên thủy, giúp họ “trở thành linh hồn sống động”. Khi sự thôi thúc khao khát hướng về điều lành thiện, chưa xác định và chưa được nhận thức, nổi lên trong lòng mong mỏi manh nha của người chưa biết suy tư (đúng là chưa biết suy tư ở giai đoạn đó), nó được sự đáp ứng từ Thánh linh. Thượng Đế đến gần con người. Họ thấm nhuần sự sống và năng lượng mà theo thời gian giúp họ tự biết mình là con của Thượng Đế, và rốt cuộc biểu lộ trọn vẹn tư cách người con của Thượng Đế. Dấu hiệu của cuộc Tiếp cận này là sự xuất hiện của trí năng trong con người. Họ được phú cho năng lực phôi thai để suy tư, suy luận, và hiểu biết. Thiên trí phổ quát phản ánh trong cái trí nhỏ bé của con người.
something happened—under the action and will of God the Creator, God transcendent—which affected primeval man, and he “became a living soul”. As the yearning urge towards an undefined and unrealized good made itself felt in the inchoate longings of unthinking man (literally unthinking at that stage), it evoked a response from Deity; God drew near to man and man became imbued with that life and energy which, as time went by, would enable him to recognize himself as a son of God and eventually to express that sonship perfectly. This Approach was signalized by the appearance of the faculty of mind in man. In man was planted the embryonic power to think, to reason and to know. The universal Mind of God was reflected in the tiny mind of man.
Chúng ta đã biết, về sau, khi năng lực trí tuệ của nhân loại sơ khai đã đủ điều kiện, một cuộc Tiếp cận khác giữa Thượng Đế và con người, giữa Thánh Đoàn và nhân loại, đã xảy ra, và cánh cửa đi vào Thiên giới rộng mở. Người ta biết rằng họ có thể qua tình thương mà đi theo con đường vào Thánh địa. Cũng nhờ mãnh lực thỉnh nguyện và khơi dậy đáp ứng, nguyên khí trí tuệ được thêm vào một thuộc tính hay nguyên khí thiêng liêng khác, là nguyên khí bác ái.
Later, we are told, when the mental powers of the early humanity warranted it, another Approach between God and man, between the spiritual Hierarchy and humanity, became possible and the door into the Kingdom of God was opened. Man learned that the way into the Holy Place could be entered through love. To the mental principle was added—again by the force of invocation and responsive evocation—another divine attribute or principle, the principle of love.
Hai cuộc Tiếp cận vĩ đại nói trên giúp linh hồn con người có thể biểu lộ hay biểu hiện hai phương diện Thông tuệ và bác ái của thiên tính: Thông tuệ và Bác ái. Ngày nay, thông tuệ đang bừng nở qua tri thức và khoa học. Tuy nhiên, vẻ đẹp minh triết ẩn tàng trong đó vẫn chưa được khai mở trên qui mô lớn. Ngày nay, bác ái chỉ mới bắt đầu được mọi người chú ý. Phương diện thấp nhất của bác ái, là Thiện chí, nay chỉ được công nhận là năng lượng thiêng liêng, nhưng vẫn còn trên lý thuyết và là niềm hy vọng.
These two great Approaches made it possible for the human soul to express or manifest two aspects of divinity: Intelligence and Love. Intelligence today is flowering through knowledge and science; it has, however, not yet unfolded on any large scale its latent beauty of wisdom; love today is only just beginning to engross human attention; its lowest aspect, Goodwill, is only now being recognized as a divine energy and is still a theory and a hope.
Đức Phật đã đến, thể hiện trong Ngài phẩm tính thiêng liêng của minh triết. Ngài là biểu hiện của Ánh sáng và là Huấn sư trên đường giác ngộ. Ngài
The Buddha came embodying in Himself the divine quality of wisdom; He was the manifestation of Light, and the Teacher of the way of enlightenment. He
