Đáp ứng. Thêm vào đó, khái niệm hết sức mới cho thấy năng lượng là căn bản của toàn cuộc sống, của mọi hình thể, mọi hành động, và là trung gian của mọi mối liên giao. Khoa học đã công nhận sức mạnh của trí tuệ trong việc tạo liên lạc thần giao cách cảm. Ngày nay, năng lực trí tuệ được ghi nhận là một loại năng lượng, có thể tiếp xúc, nhận biết, và tạo nên hoạt động hỗ tương. Sự cầu nguyện bao giờ cũng công nhận điều này mà không tìm cách đưa ra phương thức để tạo nên các hiện tượng qua phương tiện cầu nguyện. Nhưng trong cầu nguyện, tham thiền và lễ bái, rõ ràng có yếu tố năng lượng, tiến hành từ cái này đến cái kia, và trong nhiều trường hợp tạo ra sự đáp ứng dưới dạng này hay dạng khác. Tham thiền cũng là một dạng năng lượng, phát động những mãnh lực có thể loại trừ một số khía cạnh tư tưởng, hoặc hấp dẫn các phương diện khác, như linh thị, ý tưởng, và nhận thức tinh thần. Bao giờ người ta cũng biết lễ bái tạo nên sự kích thích tập thể, khi được định hướng và hội tụ thành công, thậm chí đến mức xuất thần hay cuồng loạn, sự giáng linh trong Lễ Hạ trần hay thiên khải. Với ba cố gắng kể trên—Cầu nguyện, Tham thiền, và Lễ bái—còn có sự Thỉnh nguyện hữu thức, cùng sự kỳ vọng đúng đắn để có sự Đáp ứng hỗ tương.
Evocation—must be added the exceedingly modern one of energy as the basis of all life, all forms and all action and the medium of all relationships. The force of the mind in producing telepathic rapport has already been recognized by science; mental power is today registered as an energy, capable of contact, of recognition and of producing a reciprocal activity. Prayer has always recognized this, without attempting to formulate the mode whereby phenomena are produced through the medium of prayer. But in prayer, meditation and worship there is undoubtedly an energy factor, proceeding from this to that and producing in many cases the desired response in some form or another. Meditation is also an energy, setting in motion potencies which can eliminate certain aspects of thought or attract other aspects, such as visions, ideas, and spiritual recognitions. Worship has ever been known to produce a group stimulation when successfully oriented and focussed even to the point of ecstasy or hysteria, Pentecost or revelation. To these three—Prayer, Meditation and Worship—must now be added conscious Invocation, plus a trained expectancy of a reciprocal Evocation.
Cũng có nhiều dạng năng lượng và nhiều mãnh lực tinh thần chưa được mọi người công nhận, nhưng những cuộc Lễ trong giáo hội của tất cả các tôn giáo đều có mang bằng chứng. Các năng lượng và mãnh lực này được phóng rải trong thời gian Lễ hội. Không thể bàn chi tiết về vấn đề vừa kể trong sách này. Nhưng chúng ta có thể nêu lên đường hướng tư tưởng chung sẽ tạo nên và qui định Nền Tân Tôn giáo Thế giới; sẽ liên kết nó với những gì tốt đẹp đã có từ quá khứ; và sẽ khiến nó mang lại hiệu quả tinh thần trong tương lai. Ngày nay đường hướng này sẽ từ từ chi phối sự tiếp cận của con người với Thượng Đế—một sự tiếp cận lần đầu tiên trong lịch sử có thể được tổ chức trên qui mô toàn thế giới và hữu thức thực hiện. Điều này cho thấy rằng vì nhu cầu khẩn thiết của con người, vì
There are also many forms of energy and many spiritual potencies which are not as yet generally recognized but to which the church Festivals of all religions bear witness; these are released at the period of the Festivals. It is not possible in this book to deal with this subject in any detail. But we can indicate the general line of thought which will produce and condition the New World Religion, which will link it with all of the good which the past has given, which will make it spiritually effective in the future and which today will slowly condition man's approach to God—an approach which for the first time in history can be organized on a worldwide scale and consciously undertaken. This indicates that because of man's desperate need, because of
