Đây vừa là một sự thật huyền linh học, vừa là một sự thật khoa học. Tuy thế, thực thể vật chất là một khái niệm của linh hồn, và chỉ có linh hồn mới thực sự biết được. Do đó, sau cuộc điểm đạo thứ tư, khi công việc của linh hồn được hoàn tất và linh hồn thể (soul body) phai mờ hình ảnh, chỉ có tính chất mà nó đã được truyền đạt trong thực thể vật chất là còn lại với vai trò là phần đóng góp của nó – thuộc cá nhân, thuộc nhóm hoặc thuộc hành tinh – cho toàn bộ biểu lộ. Tất cả những gì còn lại là một điểm sáng. Điểm sáng này vốn hữu thức, bất biến và có ý thức về hai thái cực của sự biểu hiện thiêng liêng: ý thức về sự đồng nhất có tính cá nhân và ý thức về vũ trụ. Những điều này được hợp nhất và pha trộn trong Đấng Duy Nhất (the ONE). Lưỡng Tính Thiêng Liêng là biểu tượng cụ thể của Đấng Duy Nhất này – sự hợp nhất thành một của các cặp đối ứng, âm và dương, nam và nữ.
This is both an occult and a scientific truism. Substance is, however, a soul concept, and is only truly known to the soul. Therefore, after the fourth initiation, when the work of the soul is accomplished and the soul body fades out of the picture, only the quality which it has imparted in substance is left as its contribution—individual, group or planetary—to the sumtotal of manifestation. All that remains is a point of light. This point is conscious, immutable and aware of the two extremes of the divine expression: the sense of individual identity and the sense of universality. These are fused and blended in the ONE. Of this ONE the divine Hermaphrodite is the concrete symbol—the union in one of the pairs of opposites, negative and positive, male and female.
Trong trạng thái hiện tồn mà chúng ta gọi là trạng thái Chân Thần, không có sự dị biệt nào được nhận biết giữa hai tính chất này, vì (nếu Tôi có thể mang những ý tưởng như vậy xuống tới trình độ thông minh của người tìm đạo) người ta thấy rõ rằng không có phần tử đơn vị (identity) nào tách khỏi tính phổ quát (universality), và không một nhận thức nào về vạn vật (universal) tách rời khỏi nhận thức cá nhân, và nhận thức về sự đồng nhất này với cả phần tử và tổng thể tìm thấy điểm nhất-tâm của nó trong ý-chí-hiện-tồn (will-to-be), vốn được phẩm định bằng ý-chí-hành-thiện (will-to-good) và được phát triển (từ góc độ tâm thức) bằng ý chí muốn-biết (will-to-know).
In the state of being which we call the monadic, no difference is recognised between these two because (if I can bring such ideas down to the level of the intelligence of the aspirant) it is realised that there is no identity apart from universality and no appreciation of the universal apart from the individual realisation, and this realisation of identification with both the part and the whole finds its point of tension in the will-to-be, which is qualified by the will-to-good and developed (from the consciousness angle) by the will-to-know.
Thật ra, đây là ba trạng thái của ý chí thiêng liêng tồn tại trong sự hoàn hảo của nó ở Thái Dương Thượng Đế, và tìm thấy một phương tiện biểu lộ qua Hành Tinh Thượng Đế. Do đó ý chí này đang thể hiện theo bảy cách, xuyên qua những tính chất sinh động của bảy Hành Tinh Thượng Đế, Các Ngài tự biểu lộ qua bảy hành tinh thánh thiện. Các Ngài bận rộn với nỗ lực đưa tất cả các hình thức của sự sống vào trong quỹ đạo ảnh hưởng của Các Ngài, lên tới cùng một mức độ về nhận thức được ghi nhận và về sự sống được biểu lộ. Do đó, điều sẽ trở nên hiển nhiên đối với bạn là trên mỗi một trong bảy hành tinh thánh thiện, một trạng thái của Thiên Ý (divine Will) sẽ có tính chủ đạo.
These are in truth three aspects of the divine will which exists in its perfection in the solar Logos and finds a medium of expression through the planetary Logos. This will is therefore working out in seven ways, via the living qualities of the seven planetary Logoi Who express Themselves through the seven sacred planets; They are preoccupied with the endeavour of bringing all the forms of life within the orbit of Their influence up to the same measure of recorded recognition and of registered existence. It will be obvious to you, consequently, that on each of the seven sacred planets one aspect of the divine Will will be dominant.
Đây là ý nghĩa của Không Gian – lĩnh vực mà trong đó các trạng thái của Thực Tại (Being) được đưa đến giai đoạn thừa nhận. Khi giai đoạn đó đã được đạt đến, và Chủ Thể Tri Thức, tức Linh Hồn, có hiểu biết đầy đủ và có ý thức hoàn toàn, bấy giờ
This is the significance of Space—the field wherein states of Being are brought to the stage of recognition. When that stage has been reached and the Knower, the Soul, is fully aware and fully conscious, then there enters
