và không gian. Chính theo ý nghĩa này, hiểu về mặt huyền bí, mà thời gian là một sự kiện – mà triết học hiện nay đang lưu ý, đang dò dẫm hướng tới một sự biểu lộ tâm thức của điểm đạo đồ.
and space. It is in this sense, esoterically understood, that time is an event—which philosophy now points out, groping towards an expression of the initiate consciousness.
Cuối cùng, xét theo nghĩa đen, khi người ta bước đến cuối con đường tiến hóa, những gì còn lại sẽ là mục tiêu thiêng liêng và Sự Sống bao trùm tất cả, vì con đường tiến hóa hiện thực hóa thiên cơ trong thời gian và không gian. Đây là kết quả của việc quay Bánh Xe sự sống lớn, làm cho tất cả các bánh xe nhỏ – trong thời gian và không gian – cũng xoay theo. Trong khi đó, con người trước tiên bị thúc đẩy bởi ham muốn, kế đó bởi khát vọng hướng tới một mục tiêu được hình dung nào đó, sau đó bởi ý muốn ích kỷ của mình, ý muốn này tiết lộ cho y bản chất của ý chí: sự chuyên cần bền bỉ với một mục tiêu nào đó được xem như là đáng mong muốn, và mọi năng lực được hướng tới mục tiêu đó. Khi đã làm cạn kiệt mọi mục tiêu hữu hình, sự sống nội tâm thúc đẩy con người tiếp tục tiến tới các mục tiêu vô hình, và tính chất của ý chí y bắt đầu thay đổi. Y phát hiện ra một ý chí lớn lao hơn ý chí của riêng y, và bắt đầu đồng nhất hóa dần chính y với ý chí đó, tiến tới hết giai đoạn này đến giai đoạn khác, từ một mục tiêu được nhận thức này đến một mục tiêu khác cao hơn, mỗi bước tách y ra xa khỏi cái gọi là ý của riêng y, và đưa y đến gần hơn với một sự nhận thức về ý nghĩa của Thiên Ý (divine will or purpose).
In the long run, literally when the path of evolution is trodden to its end, what remains will be the divine purpose and the all-enveloping Life as it materialises the plan in time and space. This is the result of the turning of the greater Wheel of life, causing all the lesser wheels—in time and space—also to turn. In the meantime, the human being is first of all driven by desire, then by aspiration towards some visioned goal, then by his selfish will, which reveals to him the nature of the will: persistent application to some purpose, seen as desirable and to which every power is bent. Having exhausted all tangible goals, the inner life forces the man on towards the intangible, and the quality of his will begins to change. He discovers a larger will than his own and begins slowly to identify himself with it, proceeding stage by stage from one realised purpose to another higher one, each step removing him further from his own so-called will and bringing him nearer to an appreciation of the significance of the divine will or purpose.
Có thể nói rằng, trong một nỗ lực để làm sáng tỏ phương pháp mà theo đó điều này được thực hiện, mà, bằng cách thực hiện thiên cơ, vị đệ-tử học hỏi bản chất của thiên ý, trừ những gì của thiên ý mà chỉ một vị đang phát triển Chân-Thần-thức (ở kỳ điểm đạo thứ 6 – Trích Luận Về Lửa Càn Khôn, trang 121) mới có thể hiểu rõ.
It might be stated, in an effort to clarify the method whereby this is done, that by the carrying out of the plan the disciple learns the nature of the purpose, but that the purpose itself can only be grasped by one who is developing monadic consciousness.
Chân-Thần-thức không phải là tâm thức như con người hiểu về nó, mà là trạng thái hiểu biết (apprehension) vốn không phải là tâm thức (consciousness) hoặc nhận thức (nealisation) theo như nhà thần bí cảm nhận nó, hoặc sự huyền đồng (identification) theo như nhà huyền linh học đặt tên cho nó, mà là một cái gì đó vốn xuất hiện khi cả ba trạng thái này được hiểu rõ giá trị và được ghi nhận ở một khoảnh khắc thời gian (a moment of time) trong quỹ đạo không gian.
Monadic consciousness is not consciousness as human beings understand it, but is that state of apprehension which is not consciousness or realisation, as the mystic feels it, or identification, as the occultist terms it, but something that appears when all of these three are appreciated and registered in a moment of time within the orbit of space.
Bây giờ, khi nói điều này, Tôi muốn hỏi bạn rằng liệu bạn có thông thái nhiều hơn không, hoặc Tôi có lợi ích gì không khi viết những lời này, nếu bạn không hiểu được chúng? Tôi viết ra là vì hai lý do. Một trong những bổn phận và nhiệm vụ của Tôi (với tư cách là một Chân Sư Minh-Triết) là gắn chặt các ý tưởng đó trong trí con người, và đưa vào trong lĩnh vực ngôn từ một vài khái niệm mới mẻ để cho các khái niệm đó có thể
Now, having said this, I would ask you if you are much the wiser, or of what profit it is for me to write these words if you understand them not? For two reasons I write. One of my functions and duties (as a Master of the Wisdom) is to anchor ideas in the mind of man and carry down into the realm of words certain emerging concepts so that they may
