Con Đường đến sự Tiến Hóa Cao Siêu – mà các điểm đạo đồ cao cấp đương đầu – nay đã mở ra.
the Way to the Higher Evolution—which confronts the higher initiates—has now opened up.
Ba trạng thái của ý chí, như được tập trung trong Tam Thượng Thể Tinh Thần, nay đang trong những sự biểu lộ đầy đủ; vị điểm đạo đồ được sinh động bởi Thiên Ý, nhưng đối mặt với các phát triển tiến hóa còn lớn hơn; về các phát triển này, Tôi không cần nói đến, vì chúng liên quan đến các trạng thái thiêng liêng mà đến nay con người không biết và ghi nhận. Lý do cho sự thiếu hiểu biết hoàn toàn này là ở chỗ hiện thể của bất kỳ người nào dưới lần điểm đạo thứ ba chứa quá nhiều “vật chất không tinh khiết” để ghi nhận tác động của các tính chất thiêng liêng này. Chỉ “thể được tạo ra” (huyễn thể, mayavirupa) của một điểm đạo đồ thuộc lần điểm đạo thứ tư mới có thể bắt đầu ghi nhận các tác động (impacts) thiêng liêng này; do đó thật là phí thời gian của chúng ta khi xem xét ngay cả khả năng tồn tại của chúng. Ngay cả Tôi, một Chân Sư, và do đó là một điểm đạo đồ với một đẳng cấp tương đối cao, cũng chỉ cảm nhận được chúng một cách yếu ớt, và bởi vì Tôi đang học cách tuân theo thuật ngữ thứ năm, mà hiện chúng ta sẽ xem xét một cách vắn tắt, rất vắn tắt.
The three aspects of the will, as focussed in the Spiritual Triad, are now in full expressions the initiate is animated by Purpose, but faces still greater evolutionary developments; of these I do not need to speak, as they concern divine aspects as yet unknown and unregistered by man. The reason for this complete ignorance is that the vehicles of any man below the third initiation contain too much “impure matter” to record the impact of these divine qualities. Only the “created body” (the mayavirupa) of an initiate of the fourth initiation can begin to register these divine impacts; it is therefore waste of our time to consider even the possibility of their existence. Even I, a Master, and therefore an initiate of a relatively high degree, am only faintly sensing them, and that because I am learning to obey the fifth word which we will briefly, very briefly, now consider.
5. Phục Sinh (Resurrect).
5. Resurrect.
Một trong tất cả các lệch lạc (distortions), và một trong sai lầm lớn nhất (most misleading) của các giáo lý thần học, đã là cách giải thích được đưa ra về thuật ngữ “sự phục sinh” trong sự tiếp cận Cơ Đốc giáo. Sự phục sinh này đã được áp dụng trong nhiều trường hợp cho sự sống lại của thể xác; nó cũng được áp dụng cho sự kiện (ước muốn có động cơ ích kỷ) về sự bất tử; nó cũng được áp dụng cho sự sống lại thể xác của Đức Christ sau khi Ngài được cho là đã chết trên Thập Giá. Về bản chất, sự phục sinh giảng dạy việc “nâng lên” (“lifting up”) của vật chất vào cõi trời; nó không dạy sự bền bỉ vĩnh cửu về thể xác của một người, như nhiều nhà theo Trào Lưu Chính Thống(Fundamentalists) ngày nay giả định, tìm kiếm sự tái xuất hiện của thể xác bị loại bỏ; nó dạy “cuộc sống của Sự Sống” và trạng thái của “Bản Thể không thể thay đổi”. Bản Thể không thể thay đổi này tạo thành bản chất của Chân Thần, và chính với tình trạng nhận thức này mà Đức Christ đã đạt được khi Ngài hoạt động như một Đấng Cứu Thế và do đó đảm bảo, bằng sức mạnh của sự thành tựu của Ngài như một phàm ngã-linh hồn, cùng mức thành đạt đối với chúng ta, vì chúng ta đều ngang nhau và về cơ bản là con cái của Chúa Cha, hoặc là những biểu lộ của Chân Thần,
One of the greatest of all distortions, and one of the most misleading of the theological teachings, has been the interpretation put upon the word “resurrection” in the Christian approach. This resurrection has been applied in many cases to the resurrection of the body; it is also applied to the fact (the selfishly motivated wish) of immortality; it is applied also to the physical resurrection of the Christ after he supposedly died upon the Cross. Resurrection teaches essentially the “lifting up” of matter into heaven; it does not teach the eternal persistence of the physical body of a man, as many Fundamentalists today suppose, looking for the reappearance of the discarded physical body; it does teach the “livingness of Life” and the state of “unalterable Being.” This unalterable Being constitutes the nature of the Monad, and it is to this condition of awareness that Christ attained when He functioned as a World Saviour and thereby guaranteed, by the force of His achievement as a personality-soul, the same point of attainment for us, for we are equally and essentially sons of the Father or expressions of the Monad,
