Có lẽ theo thời gian, chúng ta đã tìm ra những từ ngữ này, phương pháp kiến tạo và phương tiện mà nhờ đó antahkarana được tạo ra sẽ xuất hiện một cách rõ ràng hơn nhiều.
Perhaps by the time we have investigated these words, the method of construction and the means whereby the antahkarana is built will appear with greater clarity.
Các từ ngữ này bao gồm một kỹ thuật xây dựng hoặc một tiến trình vận dụng năng lượng vốn làm cho trở thành hiện thực mối quan hệ giữa Chân Thần và con người, vốn đang khao khát hướng tới sự giải thoát hoàn toàn và đang bước lên Con Đường Đệ Tử và Điểm Đạo; nó có thể tạo ra một vận hà ánh sáng và sự sống giữa các trạng thái thiêng liêng cao và thấp, và có thể tạo ra một cây cầu giữa thế giới của sự sống tinh thần và thế giới của sinh hoạt hằng ngày ở cõi trần. Đó là một kỹ thuật để tạo ra hình thức cao nhất của thuyết nhị nguyên và của việc loại bỏ sự biểu lộ tam phân của thiên tính, bằng cách đó làm mạnh thêm biểu lộ thiêng liêng và đưa con người đến gần hơn với mục tiêu cuối cùng của y. Các đệ tử phải luôn luôn nhớ rằng tâm thức linh hồn là một giai đoạn trung gian. Nó cũng là một diễn trình mà theo đó – từ góc độ của các giới dưới nhân loại trong thiên nhiên – chính con người trở thành kẻ trung gian thiêng liêng và tác nhân truyền chuyển năng lượng tinh thần cho những sự sống mà các giai đoạn ý thức của chúng ở dưới giai đoạn ngã thức. Đối với những sự sống này – trong toàn bộ chúng – nhân loại trở thành điều mà Thánh Đoàn đang là đối với nhân loại. Việc phụng sự này chỉ có thể xảy ra khi có đủ số người được nổi bật bởi sự hiểu biết về nhị nguyên cao, và đang ngày càng có linh-hồn-thức chứ không chỉ có ngã thức. Lúc đó họ có thể làm cho sự truyền chuyển này có thể xảy ra, và nó được thực hiện bằng cách dùng antahkarana.
These words cover a building technique or a process of energy manipulation which brings into being a rapport between the Monad and a human being who is aspiring towards full liberation and is treading the Path of Discipleship and Initiation; it can create a channel of light and life between the higher and the lower divine aspects and can produce a bridge between the world of spiritual life and the world of daily physical plane living. It is a technique for producing the highest form of dualism and of eliminating the threefold expression of divinity, thereby intensifying the divine expression and bringing man nearer to his ultimate goal. Disciples must always remember that soul consciousness is an intermediate stage. It is also a process whereby—from the angle of the subhuman kingdoms in nature—humanity itself becomes the divine intermediary and the transmitter of spiritual energy to those lives whose stages of consciousness are below that of self-consciousness. Humanity becomes to these lives—in their totality—what the Hierarchy is to humanity. This service only becomes possible when a sufficient number of the human race are distinguished by the knowledge of the higher duality and are increasingly soul-conscious and not just self-conscious. They can then make this transmission possible, and it is done by means of the antahkarana.
Do đó, chúng ta hãy lấy sáu khía cạnh này của một kỹ thuật kiến tạo cơ bản, và nỗ lực để đạt đến ý nghĩa huyền bí và có tính sáng tạo của chúng.
Let us, therefore, take these six aspects of a basic building technique and endeavour to arrive at their occult and creative significance.
1. Ý định (Intention). Từ này không có nghĩa là một quyết định trí tuệ, ước muốn hoặc quyết tâm. Ý tưởng thiên về nghĩa đen hơn là sự tập trung năng lượng trên cõi trí ở vào điểm nhất tâm lớn nhất có thể có. Nó có nghĩa là việc mang lại một tình trạng trong tâm thức của vị đệ tử vốn tương tự với tâm thức của Thượng Đế khi – trên qui mô rộng lớn hơn nhiều của Ngài – Thượng Đế đã tập trung trong một vòng-giới-hạn (xác định lĩnh vực
1. Intention. By this is not meant a mental decision, wish or determination. The idea is more literally the focussing of energy upon the mental plane at the point of greatest possible tension. It signifies the bringing about of a condition in the disciple's consciousness which is analogous to that of the Logos when—on His much vaster scale—He concentrated within a ring-pass-not (defining His desired
