“Lúc đó người ta nhận ra một ánh sáng khác, ánh sáng trong lạnh vốn không phải là ánh sáng mà là bóng tối trong sự tinh khiết thuần khiết nhất của nó – Ánh Sáng của chính Thượng Đế. Nó làm tối đi mọi ánh sáng khác ngoại trừ Chính Nó; mọi hình hài lu mờ đi, và tuy thế toàn bộ sự sống vẫn ở đó. Đó không phải là ánh sáng như chúng ta biết về ánh sáng. Nó là tinh hoa căn bản thuần khiết của Ánh Sáng đó, vốn tiết lộ Chính Nó qua ánh sáng”.
“Another light is then perceived, the clear cold light which is not light but darkness in its purest purity—the LIGHT of God Himself. It renders dark all else beside Itself; all forms fade out and yet the whole of life is there. It is not light as we know light. It is that pure essential essence of that Light which reveals Itself through light.”
Đó là ánh sáng thứ hai mà cả Đức Phật và Đức Christ đã nhắc đến khi các Ngài nói: “Ta là ánh sáng của thế gian”. Đó là Ánh Sáng của chính Thượng Đế, Đấng Chủ Tể của các Thế Giới, trong đó Các Đấng trong Huyền Linh Nội Điện của Shamballa sống và hoạt động, và có Sự Hiện Tồn (Being) của Các Ngài.
It was the second light to which the Buddha and the Christ both referred when They said: “I am the light of the world.” It is the Light of God Himself, the Lord of the Worlds, in which the Lives within the Council Chamber of Shamballa live and move and have Their Being.
Đó là sự nhận thức về các “ánh sáng” khác nhau trên Con Đường Sáng, vốn hàm ý sự sẵn sàng cho điểm đạo. Điểm đạo đồ tiến vào ánh sáng theo một ý nghĩa đặc biệt; nó thấm vào bản chất của y tùy theo sự phát triển của y ở bất kỳ mức độ nào trong thời gian và không gian; nó giúp cho y tiếp xúc và thấy được cái từ trước đến nay không được thấy, và dựa trên cơ sở của kiến thức mới có được để điều khiển các bước chân của y đi xa hơn nữa.
It is the recognition of the varying “lights” upon the Lighted Way that signifies readiness for initiation. The initiate enters into light in a peculiar sense; it permeates his nature according to his development at any point in time and space; it enables him to contact and see the hitherto unseen, and on the basis of the newly acquired knowledge to direct his steps still further.
Ở đây, Tôi không nói theo các biểu tượng. Mỗi điểm đạo đồ làm mờ ánh sáng đã có và đã sử dụng, và sau đó làm nhấn chìm điểm đạo đồ trong một ánh sáng cao hơn. Mỗi cuộc điểm đạo giúp cho đệ tử nhận thức được một lĩnh vực hiểu biết thiêng liêng mà cho đến nay vẫn chưa được biết, nhưng khi đệ tử tự làm quen với nó và với các hiện tượng độc đáo của nó, là tính chất rung động và các mối tương giao, thì nó trở thành một lĩnh vực kinh nghiệm và hoạt động bình thường đối với y. Như thế (nếu Tôi có thể diễn tả điều đó như thế) “các thế giới của các hình thức linh hoạt và các sự sống vô sắc tướng trở thành riêng của y”. Ngoài ra, nhị nguyên đi vào nhận thức trí tuệ của y, vì hiện giờ y ý thức đến lĩnh vực chiếu sáng mà từ đó y xuất phát đến điểm nhất tâm hoặc điểm của cuộc điểm đạo; nhờ tiến trình điểm đạo, y phát hiện ra một lĩnh vực mới và được chiếu sáng rực rỡ hơn mà giờ đây y có thể nhập vào. Điều này không bao hàm việc bỏ lại lĩnh vực hoạt động trước đây mà trong đó y đã làm việc và sinh sống; nó chỉ có nghĩa là lĩnh vực trách nhiệm mới và cơ hội mới đang đối mặt với y bởi vì – nhờ nỗ lực của chính mình – y có thể nhìn thấy nhiều ánh sáng hơn, bước đi trong ánh sáng vĩ đại hơn, chứng tỏ đầy đủ hơn
I am not here speaking in symbols. Each initiation dims the light already acquired and used, and then immerses the initiate in a higher light. Each initiation enables the disciple to perceive an area of divine consciousness hitherto unknown but which, when the disciple has familiarised himself with it and with its unique phenomena, vibratory quality and interrelations, becomes for him a normal field of experience and activity. Thus (if I may so express it) the “worlds of living forms and formless lives become his own.” Again duality enters into his mental perception, for he is now aware of the lighted area from which he comes to the point of tension or of initiation; through the initiatory process he discovers a new and more brilliantly lighted area into which he may now enter. This involves no leaving of the former field of activity in which he has worked and lived; it simply means that new fields of responsibility and of opportunity confront him because he is—through his own effort—able to see more light, to walk in a greater light, to prove more adequately than
