khoa học đang xuất hiện này là, trong các giai đoạn sớm sủa hoặc đầu tiên, nó hiện thân cho khái niệm mầm mống của tôn giáo thế giới mới.
emerging science is that, in the early or first stages, it embodies the seed concept of the new world religion.
Trong những bài Đại Khấn Nguyện mà Tôi đã đưa ra, bài thứ nhất (iv) (“Mong cho các Thần Lực của Linh Quang đem lại giác ngộ cho nhân loại…”) là một nỗ lực về phần Tôi để diễn đạt thành lời tiếng kêu cầu khấn nguyện của nhân loại, và của mọi người nam lẫn nữ có thiện chí trên khắp thế giới. Thành công của nó đã chứng tỏ sức mạnh của thiện chí đó. Bài thứ hai (v) (“Mong sao các Đấng Giải Thoát giáng lâm…”) trong thực tế chỉ có thể được sử dụng, với bất kỳ mức độ hoặc hy vọng thành công nào đó, bởi người tìm đạo, các đệ-tử và các điểm đạo đồ, và vì thế đã gần như không phổ biến lắm với công chúng, mặc dù trong thực tế mạnh hơn rất nhiều, và có hiệu quả hơn nhiều. Tuy thế, điều cần thiết là một sự hợp nhất của hai nhóm này nên diễn ra trước khi tiếng khấn nguyện của nhân loại nói chung có thể trở nên mạnh mẽ và có hiệu quả trong việc gợi lên sự đáp ứng.
In the great invocations which I have given out, the first one (iv) (“Let the Forces of Light bring illumination to mankind…”) was an effort on my part to put into words the invocative cry of mankind and of all men and women of goodwill throughout the world. Its success was indicative of the strength of that goodwill. The second (v) (“Let the Lords of Liberation issue forth…”) can, in reality, only be used with any measure or hope of success by aspirants, disciples and initiates, and hence was not nearly so popular with the general public, though in reality much more powerful and potentially effective. It was essential, however, that a fusion of the two groups should take place before the invocative cry of humanity as a whole could be powerful and effective in evoking response.
Trước khi tiếp tục nghiên cứu từng câu một của Quy Luật III, Tôi muốn bạn chú ý vào sự liên hệ giữa Quy Luật này và Quy Luật trước được đưa ra cho các người khấn nguyện. Người khấn nguyện phát ra tiếng kêu xin của y – ngang qua sa mạc, trên mọi vùng biển và xuyên qua các đám lửa. Toàn bộ phàm-ngã của y, được kết hợp và được định hướng, được tập trung vào một điểm nhất-tâm; sau đó y thốt ra tiếng khấn nguyện của mình (tượng trưng bằng cách diễn tả không phát ra tiếng), và tiếng khấn nguyện này đập vào cánh cửa đang ngăn cách y với linh hồn, trong trường hợp thứ nhất, và ngăn cách với Thánh Đoàn, trong trường hợp thứ hai. Cánh cửa chỉ là một biểu tượng của sự phân cách; nó chia một nơi này với một nơi khác, một lĩnh vực hoạt động này với lĩnh vực hoạt động khác, và một trạng thái ý thức này với trạng thái ý thức khác. Nó nuôi dưỡng trong người tìm đạo một ý thức về nhị nguyên tính. Nó là một từ ngữ diễn tả thái độ thần bí. Thái độ này bao trùm các ý niệm đây đó về linh hồn và xác thân, về Thượng Đế và con người, về Thánh Đoàn và nhân loại. Nhưng Quy Luật III, khi được bày tỏ cho điểm đạo đồ, chứng tỏ rằng nhận thức thần bí này cuối cùng trôi qua; ý thức chia rẽ biến mất, và cánh cửa bị bỏ lại phía sau.
Prior to taking up the study, phrase by phrase, of Rule III, I would call your attention to the relation between this Rule and the earlier one given to applicants. The applicant sends out his cry—across the desert, over all the seas and through the fires. His entire personality, integrated and oriented, is focussed at a point of tension; then he utters his cry (symbolic of a voiceless expression) and this cry beats against the door which separates him from the soul, in the first instance, and from the Hierarchy, in the second. The door is only a symbol of separation; it divides one place from another location, one sphere of activity from another, and one state of consciousness from another. It fosters in the aspirant a sense of duality. It is a word descriptive of the mystic attitude. This attitude embraces the concepts of here and there, of soul and body, of God and man, of Hierarchy and humanity. But Rule III, as voiced for initiates, demonstrates that this mystical realisation finally goes; the sense of separation disappears, and the door is left behind.
1. Việc di chuyển về phía trước theo hai hướng. Cánh Cửa được để lại phía sau. Đó là một diễn biến của quá khứ.
1. Dual the moving forward. The Door is left behind. That is a happening of the past.
(iv):
Sự Hiển Lộ Của Thánh Đoàn, Trang v.
(iv):
The Externalisation of the Hierarchy, Page v.
(v):
Sự Hiển Lộ Của Thánh Đoàn, Trang v.
(v):
The Externalisation of the Hierarchy, Page v.
