Trạng thái của tâm thức bao giờ cũng được nêu ra bằng kích cỡ, màu sắc và hoạt động của các năng lượng vốn tạo thành các cánh của hoa sen; sự khai mở của chúng và sự phát triển của chúng được chi phối bởi các cung thống ngự, cũng như bởi tuổi tác và độ dài của biểu hiện của linh hồn. Phạm vi và bản chất của “độ sáng” tương đối cũng được chi phối bởi điểm tập trung trong bất cứ sự sống đặc biệt nào, cũng như bởi khuynh hướng của việc tư duy của linh hồn đang lâm phàm; ở đây cần phải nhớ rằng “năng lượng theo sau tư tưởng”. Sự tập trung tự nhiên hay là điểm an trụ đôi khi được làm cân bằng một cách chắc chắn nhất bằng đường lối tư tưởng của con người (bất cứ cái gì có thể xảy ra hiện nay) hoặc là bằng sự kiện đó là y đang sống, một cách hữu thức hoặc vô thức, cuộc sống của mọi ngày. Một trường hợp của điều này có thể được nhận thấy trong sự kiện là điểm tập trung tự nhiên của đệ tử có thể là bí huyệt nhật tùng, nhưng vì tư tưởng ăn sâu và được xác định của y, năng lượng mà y sử dụng có thể được hướng đến một trong các trung tâm lực trên cách mô, như thế tạo ra một sự hao mòn tạm thời của các trung tâm lực dưới cách mô và sự kích thích do hậu quả của những gì nằm bên trên đường phân chia đó. Thế là các thay đổi cần thiết được tạo ra.
The state of the consciousness is ever indicated by the size, the colour and the activity of the energies which compose the petals of the lotus; their unfoldment and their development is conditioned by the governing rays, as well as by the age and the length of the soul's expression. The extent and the nature of the relative “brightness” is also conditioned by the point of focus in any particular life, as well as by the trend of the thinking of the soul which is in incarnation; it must be remembered here that “energy follows thought.” The natural focus or point of polarisation is at times most definitely offset by a man's line of thought (whatever that may currently be) or by the fact that he is living, consciously or unconsciously, the life of every day. An instance of this can be found in the fact that a disciple's natural focus might be the solar plexus centre, but because of his fixed and determined thought, the energy which he wields can be directed to one of the centres above the diaphragm, thus producing a temporary atrophying of the centre below the diaphragm and the consequent stimulation of that which lies above that dividing line. Thus are the needed changes made.
Khi chu kỳ tiến hóa gần đến lúc kết thúc của nó và đệ tử có điểm đạo hầu như phát triển theo thường lệ, các năng lượng đều được triển khai đầy đủ, linh hoạt và rung động, và do đó được sử dụng một cách hữu thức dưới hình thức các khía cạnh cốt yếu của bộ máy tiếp xúc (contact mechanism) của điểm đạo đồ. Điều này thường bị bỏ quên và trọng điểm của sự suy tư của đạo sinh được đặt vào các trung tâm lực dưới hình thức các biểu hiện của việc khai mở tự nhiên của y, trong lúc, đó là cái quan trọng tương đối thứ yếu. Thực ra các trung tâm lực là các điểm tập trung, qua đó năng lượng có thể được phân phối, dưới sự hướng dẫn khéo léo, ngõ hầu tạo ra một tác động cần thiết trên các trung tâm lực này hoặc là các cá nhân mà đệ tử tìm cách trợ giúp. Các tác động này có thể được kích thích hoặc cấp sinh khí lúc cần thiết, hoặc là chúng có thể bị hủy diệt
When the cycle of evolution is nearing its close and the initiate-disciple has well-nigh run his course, the energies are all fully developed, active and vibrant, and are therefore consciously used as essential aspects of the initiate's contact mechanism. This is often forgotten and the emphasis of the student's thinking is laid upon the centres as expressions of his natural unfoldment, whereas that is of relatively secondary importance. The centres are, in reality, focal points through which energy can be distributed, under skilled direction, in order to make a needed impact upon those centres or individuals which the disciple seeks to aid. These impacts can be stimulated or vitalised at need, or they can be deliberately
