bao gồm một thời kỳ chuyển tiếp rất rõ rệt từ cõi cảm dục đến cõi trí. Phương trình thời gian (time equation) thay đổi tùy theo cung và tuổi của linh hồn. Người cung Sáu chẳng hạn, thì rất chậm chạp trong việc tạo ra sự chuyển tiếp này, do bởi yếu tố huyễn cảm mạnh mẽ; người thuộc cung Một và cung Hai thì tương đối nhanh. Người thuộc cung Ba cũng chậm chạp, vì họ bị lạc mất trong các mạch (threads) của chính các vận dụng ảo cảm của họ và tư duy quanh co của chính họ, và khó mà biết nơi nào chân lý bắt đầu và ảo giác chấm dứt. Ảo tưởng (illusion) vốn là vấn đề của các mẫu người trí tuệ trên tất cả các cung, các hậu quả của nó có tính chất nhất thời nhiều hơn cả ảo giác (delusion).
covers a very definite period of transition from the astral plane to the mental plane. The time equation varies according to ray and the age of the soul. Sixth ray people, for instance, are very slow in making this transition, owing to the pronounced factor of glamour; first and second ray people are relatively quick. Third ray people are also slow, for they are lost in the threads of their own glamorous manipulations and their devious thinking, and hardly know where truth begins and delusion ends; illusion, which is the problem of the mental types on all rays, is far more temporary in its effects than is delusion.
Khi đệ tử đã quán triệt được một mức độ nào đó sự dị biệt đáng kể giữa các thông điệp từ tiềm thức của chính mình hay là tiềm thức của người khác mà y có liên giao với người đó, và các thông điệp đến từ chính linh hồn của y, lúc bấy giờ sự sống của y trở nên tự định hướng (self-directed) hơn và có tổ chức hơn, có kết quả hơn theo quan điểm phụng sự, và do đó hữu ích rõ rệt hơn cho Thánh Đoàn. Y học được cách phân biệt các thông điệp đến từ chính linh hồn của y từ những vị thuộc về Thánh Đoàn; sự sống của y trở nên có định hướng rõ rệt hơn; kế tiếp y phân biệt một cách rõ ràng và chính xác loại thông điệp đến với y từ Huyền Viện và loại thông điệp được đưa ra để tạo ấn tượng lên trí não của những người tìm đạo và các đệ tử thuộc mọi cấp và thuộc mọi loại cung. Khi y có thể phân biệt giữa các thông điệp khác nhau này, lúc bấy giờ và chỉ lúc bấy giờ loại thông điệp thứ ba mới có thể đến được—các thông điệp trực tiếp do sự giao tiếp với Chân Sư của bản thân Huyền Viện của Ngài. Vào lúc đó, y có được những gì được gọi là “sự tự do của Huyền Viện” (“the freedom of the Ashram”) và “chìa khóa tiến vào Thiên Giới”; lúc đó y được giao phó cho một số tiềm lực chỉ đạo của chính Ashram. Lúc đó, tư duy của y sẽ có ảnh hưởng và đạt đến những kẻ khác. Hiệu lực đang phát triển này tăng lên một cách nhanh chóng khi loại ấn tượng thứ tư trở nên quen thuộc với đệ tử:
When the disciple has mastered to some degree the significant difference between messages from his own subconscious or the subconscious of other people with whom he may be en rapport, and the messages coming from his own soul, his life then becomes more self-directed and organised, more fruitful from the angle of service, and therefore of definite use to the Hierarchy. He learns to distinguish the messages coming from his own soul from those which are hierarchical; his life becomes more clearly directed; he next distinguishes definitely and accurately the communications which come to him from the Ashram and which are sent out to make impression upon the minds of aspirants and disciples of all degrees and of all ray types. When he can distinguish between these various communications, then and only then does the third type of communication become possible—direct messages which are due to contact with the Master of his Ashram in person. He, by that time, possesses what has been called “the freedom of the Ashram” and “the keys to the Kingdom of God”; he can then be trusted with some of the directive potency of the Ashram itself. His thinking will then affect and reach others. This developing effectiveness grows with rapidity when the fourth type of impression is familiar to the disciple:
