liên kết Thánh Đoàn, và với cái mà Thánh Đoàn ủng hộ, là nhân loại; mang vào một mối quan hệ chặt chẽ của hai trung tâm có năng lượng của chúng cuối cùng phải được hòa lẫn và pha trộn thành một tổng thể.
to relate the Hierarchy, and that for which it stands, to humanity; to bring into a close rapport the two centres whose energy must eventually be fused and blended into one whole.
Có lẽ bạn sẽ hiểu rõ ý tưởng ẩn bên dưới một cách rõ ràng hơn nhiều nếu bạn nhớ lại công việc riêng mà bạn sẽ đang nỗ lực làm với chính bạn. Đây là nỗ lực để phối hợp và hòa lẫn phàm ngã với linh hồn, hay là Bản Ngã (Self) cao với các bản ngã (self) thấp, phải không? Để làm điều này, bạn phải nhận thức rằng sự giác ngộ của thể trí là một nhân tố quan trọng và thiết yếu. Do đó, có ba điểm cần xem xét: Linh Hồn, Thể Trí giác ngộ và Phàm Ngã. Thêm vào ba điều này, bạn phải có một tâm hồn hiến dâng và thức tỉnh, đầy tình thương với mọi người, rung động với lòng trắc ẩn và sự thông cảm. Do đó hãy ghi nhớ bốn yếu tố này:
Perhaps you will grasp the underlying idea with greater clarity if you will remember the personal work which you should be endeavouring to do with yourself. This is, is it not, the effort to fuse and blend the personality and the soul, or the higher Self and the lower selves. To do this you have to realise that the illumination of the mind is a vital and essential factor. There are, therefore, three points to consider: the Soul, the illumined Mind and the Personality. To these three you have to add a consecrated and awakened heart, full of love to all, vibrant with compassion and with understanding. Bear, therefore, these four factors in mind:
1. Con người tận tụy có định hướng . . . . . . Phàm Ngã.
1. The dedicated oriented man . . . . . . the personality
2. Con người tâm linh, phù trì . . . . . . Linh Hồn.
2. The overshadowing, spiritual man . . . . . . the soul
3. Thể trí giác ngộ . . . . . . trung gian liên lạc.
3. The illumined mind . . . . . . the medium of relation
4. Tâm hồn hiến dâng, yêu thương . . . . . . sự biểu lộ của ba điều trên.
4. The consecrated, loving heart . . . . . . the expression of these three.
Đây là phàm ngã và sự tương ứng cá nhân đối với hình ảnh rộng lớn hơn, và các nhân tố trên thế giới và các trách vụ rộng hơn mà vào lúc này nhân loại đang phải đối mặt. Giống như trong cuộc sống cá nhân, một người đương đầu với cơ hội để hành động với tư cách một đệ tử đang trong việc huấn luyện cho điểm đạo, cũng thế, ngày nay nhân loại đối mặt theo cùng một cách với một tình huống và các khả năng tương tự. Sự tương ứng cao mà Thánh Đoàn bận rộn vào lúc này, và nét phác thảo của điều đó vừa được đưa ra là một sự tương đồng không thích hợp, như sau:
This is the personality and individual correspondence to the broader picture and the world factors and the wider undertakings with which humanity is at this time faced. Just as in the life of the individual a man is confronted with the opportunity to function as a disciple in training with a view to initiation, so today humanity is faced in the same way with a similar situation and possibilities. The higher correspondence with which the Hierarchy is occupied at this time, and of which the outline just given is an inadequate analogy, is as follows:
1. Trung tâm trí tuệ, là Nhân Loại, dễ tiếp thu, sẵn sàng và mong đợi.
1. The intellectual centre, Humanity, receptive, ready and expectant.
2. Trung tâm tinh thần, là Thánh Đoàn, tích cực, có chủ tâm và hào phóng – sẵn sàng và chờ đợi để trao tặng những gì được mong muốn, được vươn tới và được đòi hỏi.
2. The spiritual centre, the Hierarchy, positive, deliberate and munificent—ready and waiting to bestow that which is desired, reached for and claimed.
