User Tools

Site Tools


books:24books:the_labours_of_hercules:labor_xii

LABOR XII

The Capture of the Red Cattle of Geryon

(Pisces, February 20th—March 20th)

The Myth - Nội dung Thần Thoại

Bên trong Phòng Hội Đồng Thiêng Liêng, Đấng Chủ Tọa Vĩ Đại đã tiết lộ cho Vị Huấn Sư về Ý Chí của Điều Phải Là.

Within the sacred Council Chamber, the great Presiding One revealed unto the Teacher the Will of What Must Be.

Y bị lạc lối, nhưng rồi được tìm thấy; đã chết, nhưng vẫn tràn đầy Sinh Lực. Người phụng sự trở thành Đấng Cứu Rỗi, và quay về nhà.

Lost he is, and found; dead, yet vibrant with Life. The server becomes the savior, and homeward turns.

Vị Huấn Sư suy ngẫm, rồi triệu gọi Hercules. “Giờ đây con đang đứng trước cánh cửa cuối cùng,” Vị Huấn Sư nói. “Còn một công việc nữa trước khi vòng tròn được hoàn tất và đạt đến sự giải thoát. Hãy đi đến nơi tối tăm mang tên Erytheia, nơi Đại Ảo Tưởng ngự trị, nơi Geryon—con quái vật ba đầu, ba thân và sáu tay—làm chúa tể và vua. Hắn đang giữ đàn gia súc đỏ thẫm một cách bất hợp pháp. Con phải lùa chúng từ Erytheia về Thành Phố Thiêng của chúng ta. Hãy cẩn trọng với Eurytion, người chăn súc, và con chó hai đầu Orthrus của hắn.” Ngài dừng lại. “Một lời khuyên ta có thể cho con,” Ngài chậm rãi nói thêm, “hãy cầu xin sự trợ giúp của Helius.”

The Teacher pondered; then he called for Hercules. “Before the last gate now you stand,” the Teacher said, “One labor yet remains before the circle is complete, and liberation is attained. Proceed to that dark place called Erytheia where Great Illusion is enthroned where Geryon, the monster of three heads, three bodies and six hands, is lord and king. Unlawfully he holds a herd of dark red cattle. From Erytheia to our Sacred City must you drive this herd. Beware of Eurytion, the shepherd, and his two-headed dog, Orthrus.” He paused. “One caution I can give,” he added slowly. “Invoke the aid of Helius.”

Qua Cổng thứ Mười Hai, người con của nhân loại, cũng là Con của Thượng Đế, khởi hành. Chàng lên đường tìm kiếm Geryon.

Through Gate the Twelfth the son of man who was also the Son of God departed. In search of Geryon he went.

Trong một ngôi đền, Hercules dâng lễ vật lên Helius, vị thần lửa trong mặt trời. Trong bảy ngày, chàng tham thiền, rồi một ân huệ được ban xuống. Một chiếc chén vàng rơi xuống ngay trước chân chàng. Chàng tự hiểu rõ rằng vật thể sáng rực này sẽ giúp chàng vượt biển để đến vùng đất Erytheia.

Within a temple Hercules made offerings to Helius, the god of fire in the sun. For seven days he meditated, and then a favor was bestowed on him. A golden chalice fell upon the ground before his feet. He knew within himself that this bright object would enable him to cross the seas to reach the land of Erytheia.

Và đúng như vậy. Dưới sự bảo vệ an toàn của chiếc chén vàng, chàng vượt qua những cơn sóng dữ cho đến khi đến được Erytheia. Trên một bờ cát xa xôi của vùng đất ấy, Hercules đặt chân lên bờ.

And so it was. Within the safe protection of the golden chalice, he sailed across the tossing seas until he came to Erytheia. Upon a strand in that far country, Hercules debarked. [196]

Không lâu sau đó, chàng đến đồng cỏ nơi đàn gia súc đỏ thẫm đang gặm cỏ. Chúng được canh giữ bởi người chăn cừu Eurytion và con chó hai đầu Orthrus.

Not long thereafter he came upon the pasture land where the red-hued cattle grazed. Guarded were they by the shepherd Eurytion and the double-headed dog, Orthrus.

Khi Hercules tiếp cận, con chó lao tới như một mũi tên nhắm vào mục tiêu. Nó phóng đến kẻ lạ mặt, gầm gừ dữ tợn, để lộ những chiếc nanh sắc bén. Chỉ với một cú đánh dứt khoát, Hercules đã hạ gục con quái vật. Eurytion, khiếp sợ trước dũng sĩ oai hùng đứng trước mặt, cầu xin được tha mạng. Hercules chấp thuận lời cầu xin ấy. Chàng lùa đàn gia súc đỏ như máu tiến về Thành Phố Thiêng.

When Hercules approached, the dog sped forward like an arrow to its target. Upon the visitor the creature hurled itself, snarling viciously, its bared fangs fiercely snapping. With one decisive blow did Hercules lay the monster low.Then Eurytion, fearful of the brave warrior who stood before him, supplicated that his life be spared. Hercules conceded his request. Driving the blood-red cattle before him, Hercules turned his face toward the Sacred City.

Đi chưa được bao xa thì nhận thấy một đám bụi cuộn lên từ phía xa, mỗi lúc một lớn dần. Đoán rằng quái vật Geryon đang điên cuồng truy đuổi, chàng quay lại đối mặt với kẻ thù. Chẳng mấy chốc, Geryon và Hercules đối diện nhau. Lửa và khói phun ra từ cả ba cái đầu cùng lúc, con quái vật lao tới.

Not far had he gone when he perceived a distant cloud of dust that rapidly grew larger. Surmising that the monster Geryon had come in mad pursuit, he turned to face his foe. Soon Geryon and Hercules stood face to face. Breathing fire and flame from all three heads at once, the monster came upon him.

Geryon phóng một cây giáo về phía Hercules, suýt trúng đích. Chàng nhanh nhẹn né sang một bên, tránh được mũi giáo chết người.

Geryon hurled a spear at Hercules that almost hit its mark. Stepping agilely aside, Hercules evaded the deadly shaft.

Hercules giương cung bắn ra một mũi tên, nó xuyên qua không trung như thiêu đốt không khí, cắm thẳng vào sườn quái vật. Với sức mạnh to lớn của mũi tên, cả ba thân thể hung tợn của Geryon đều bị xuyên thủng. Con quái gào thét lên tuyệt vọng vật lảo đảo rồi đổ gục, vĩnh viễn không còn đứng lên được nữa.

Stretching taut his bow, Hercules let fly an arrow that seemed to burn the air as he released it, and struck the monster squarely in the side. With such great impetus had it been shot that all three bodies of fierce Geryon were pierced. With a shrill, despairing groan, the monster swayed, then fell, nevermore to rise.

Hercules tiếp tục lùa đàn gia súc bóng mượt, đỏ hướng về Thành Phố Thiêng. Nhiệm vụ này vô cùng gian nan. Hết lần này đến lần khác, một vài con đi lạc, buộc Hercules phải tạm dừng để tìm lại chúng.

Toward the Sacred City, then, Hercules drove the sleek, red cattle. Difficult was the task. Again and yet again some cattle strayed, and Hercules would leave the herd in search of errant wanderers.

Chàng lùa đàn gia súc băng qua dãy Alps, tiến vào nước Ý. Ở bất kỳ nơi nào cái ác hoành hành, chàng đều giáng một đòn chí mạng vào thế lực tà ác, thiết lập lại sự công bằng. Khi Eryx, đô vật thách thức chàng , Hercules quật ngã hắn một cách mạnh mẽ đến mức hắn không thể đứng dậy. Một lần khác, khi gã khổng lồ Alcyoneus ném một tảng đá nặng cả tấn vào chàng , Hercules đã dùng chùy đỡ lấy rồi ném trả, hạ gục kẻ tấn công. Đôi khi chàng lạc lối, nhưng luôn quay lại, lần theo dấu chân cũ, và tiếp tục cuộc hành trình. Dù kiệt sức vì nhiệm vụ đầy gian khổ này, cuối cùng, Hercules cũng trở về. Huấn Sư đã chờ sẵn để đón chàng.

Across the Alps he drove his cattle, and into Italy. Wherever wrong had triumphed he dealt the powers of evil a deadly blow, and righted the balance in favor of justice. When Eryx the wrestler challenged him, Hercules cast him down so forcefully that there he stayed. Again, when the giant Alcyoneus threw a rock that weighed a ton at Hercules, the latter caught it [197] on his club, and hurled it back to kill the one who sent it forth. At times he lost his way, but always Hercules turned back, retraced his steps, and journeyed on. Though wearied by this most exacting labor, Hercules at last returned. The Teacher awaited his coming.

“Chào mừng con, hỡi Người Con của Thượng Đế mà cũng là người con của nhân loại,” Ngài chào đón người chiến binh trở về. “Viên ngọc bất tử đã thuộc về con. Qua mười hai công việc này, con đã vượt qua nhân loại và khoác lên mình phẩm tính thiêng liêng. Con đã về nhà, sẽ không bao giờ phải rời đi nữa. Trên bầu trời đầy sao, tên con sẽ được khắc ghi, trở thành biểu tượng cho những người con của nhân loại đang phấn đấu cho vận mệnh bất tử của họ. Những kỳ công của nhân loại đã chấm dứt, nhiệm vụ vũ trụ của con nay khởi đầu.”

“Welcome, O Son of God who is also a son of man,” he greeted the returning warrior. “The jewel of immortality is yours. By these twelve labors have you overcome the human, and put on the divine. Home have you come, no more to leave. Upon the starry firmament your name shall be inscribed, a symbol to the struggling sons of men of their immortal destiny. The human labors ended, your cosmic tasks begin.”

Từ Phòng Hội Đồng vang lên một giọng nói: “ Hỡi Người Con của Thượng Đế, ngươi đã hoàn thành tốt lắm.”

From out the Council Chamber came a voice that said, “well done, O Son of God.”

//F.M.//

Interpretation of the Story-Diễn giải Truyện

Có nhiều dị bản về huyền thoại liên quan đến công việc của Hercules dưới dấu hiệu Song Ngư. Người ta kể rằng có một hòn đảo nơi một quái vật hình người tên là Geryon sinh sống, với ba cơ thể của ba người hợp lại thành một. Hắn sở hữu một đàn gia súc màu đỏ thẫm, được canh giữ bởi một người chăn và một con chó hai đầu. Hercules nhận lệnh (Song Ngư là dấu hiệu của sự vâng phục) phải đưa đàn gia súc từ hòn đảo, vượt qua đất liền và biển cả, đến Thành Phố Thiêng.

There are several variations of the myth concerning the labor of Hercules in the sign Pisces. We are told that there was an island where lived a human monster called Geryon with a body of three men united. He had a herd of red cattle, guarded by a shepherd and a two-headed dog. Hercules received orders (Pisces is the sign of obedience) to bring these cattle from the island, across land and water to the sacred city.

Hercules vượt biển đến hòn đảo trên một chiếc chén vàng. Khi đến nơi, chàng leo lên đỉnh núi và trải qua đêm trong lời cầu nguyện. Sau đó, chàng giết con chó hai đầu nhưng không giết người chăn. Chàng cũng giết chủ nhân của đàn gia súc đỏ thẫm. Đây là phần tuyệt đẹp của câu chuyện: Hercules đặt tất cả gia súc vào chiếc chén vàng mà chàng đã dùng để vượt biển, rồi mang chúng đến Thành Phố Thiêng và dâng lên Athena, Nữ thần Minh Triết, như một lễ vật hiến tế. Thành Phố Thiêng này gồm hai thị trấn được nối liền bởi một bức tường kỳ diệu và một cổng vào được gọi là Cổng Sư Tử. Khi đàn gia súc đã được giao nộp, công việc của Hercules hoàn tất. Chúng ta không còn nghe thêm điều gì về chàng , nhưng có lẽ chàng đã tiếp tục những công việc vũ trụ cao cả hơn.

Hercules sailed to the island in a golden cup and when he arrived there he climbed to the top of a mountain and spent the night in prayer. Then he killed the two-headed dog but he did not kill the shepherd. He also killed the owner of the red cattle. Here is the beautiful part of the story: Hercules placed all of the cattle in the golden cup, in which he had sailed over to the island, took them to the Sacred City, and offered them in sacrifice to Athena, Goddess of Wisdom. This sacred city consisted of two towns connected by a wonderful wall and a gateway called the Gateway of the Lion. After the cattle were delivered Hercules’ work was over. We hear no more about him but he may have gone on to greater cosmic work. [198]

Chúng ta hãy nghĩ về Hercules như một Đấng Cứu Thế. Chàng có một linh thị về điều mình phải làm. Chàng nhận thấy nhân loại bị một quái vật sở hữu—một con người ba thân, tượng trưng cho một con người với ba thể—thể trí, thể cảm xúc và thể xác—hợp nhất. Tôi cho rằng nhiệm vụ này vẫn chưa hoàn thành; thành tựu đó vẫn còn nằm ở phía trước. Trong quá khứ, đã có những người con của nhân loại được chọn lọc từ nhân loại, một người ở đây, một người ở kia, một nhóm ở đây, một nhóm khác ở kia, giống như khi Đức Phật giáng thế, người ta nói rằng Ngài đã cứu được chín trăm người. Giờ đây, nhân loại—con quái vật ba thân—đã sẵn sàng để được cứu độ, và công việc thực sự của Đấng Cứu Thế có thể bắt đầu, với ý niệm về nhóm là nền tảng của công việc, thay vì chỉ cứu rỗi từng linh hồn riêng lẻ.

Let us think of Hercules as a world savior. He has had a vision of something he has to do. He sees humanity owned by a monster, a three-bodied man, the symbol of a human being with mental, emotional and physical bodies united. I think that this labor has not yet been completed; this accomplishment lies ahead. There have been other sons of men gathered out of the human family from time to time, one here one there, a group here and another there, as when the Buddha was on earth and it is said that he saved nine hundred. Now humanity, the human monster, is ready for salvation and the real work of The World Savior can begin as a whole with the group concept underlying the work rather than individual soul saving.

Biểu tượng của đàn gia súc đỏ thẫm rõ ràng là biểu tượng của dục vọng thấp kém, vì dục vọng luôn là một đặc điểm nổi bật của nhân loại. Chúng được một người chăn cừu canh giữ, tượng trưng cho thể trí, còn con chó hai đầu đại diện cho khía cạnh vật chất và bản chất thông linh. Đó là lý do tại sao Hercules tha mạng cho người chăn cừu. Trí tuệ vẫn có thể là người chăn giữ đàn gia súc, nhưng con chó hai đầu, tức bản chất thông linh-cảm xúc và khía cạnh vật chất, đã bị Hercules tiêu diệt, nghĩa là chúng bị tước đoạt mọi quyền lực. Người chăn vẫn còn quyền lực, và tôi không thể hình dung một thời điểm nào mà con người nhập thế lại không cần sử dụng trí tuệ như một công cụ diễn giải năng lượng tinh thần.

The symbolism of the red cattle is plainly that of the lower desires, desire being ever an outstanding characteristic of humanity. They are guarded by a shepherd, which is the mind, the two-headed dog representing the matter aspect and the psychic nature. You see why Hercules spared the shepherd. The mind can still be the shepherd of the cattle but the two-headed dog, the psychic-emotional nature and the matter aspect, Hercules killed, which means that they were deprived of any power. The shepherd still had power and I can conceive of no time in which a human being in incarnation will not need to use the mind as the interpreter of spiritual energy.

Nếu Đức Jesus, với tư cách một con người, hoà hợp với linh hồn mình, trở thành một người truyền dẫn ánh sáng cho nhân loại, thì chúng ta có thể mở rộng khái niệm này và nghĩ về nhân loại như một tổng thể, với mọi thể trí vững vàng trong ánh sáng, truyền đạt năng lượng tinh thần xuống các giới thấp hơn trong thiên nhiên, nâng chúng lên thiên đường. Đó là công việc của nhân loại. Chúng ta quá bận tâm với những vấn đề của riêng mình mà quên đi bức tranh toàn cảnh. Một lần nữa, cần lưu ý rằng kẻ giữ gia súc—khía cạnh hình tướng—cũng đã bị giết, nhưng người chăn và đàn gia súc được nâng lên trong chiếc chén vàng. Ở đây, các bạn có hình ảnh của Chén Thánh, và như vậy, công việc đã hoàn tất. Đấng Cứu Thế đã hoàn thành sứ mệnh của mình. Ngài đã nâng nhân loại lên cao. Đó là điều mà tất cả các Đấng Cứu Thế trên thế gian đã làm. Họ đều thực hiện điều mà trên một mức độ cao hơn Đức Christ đã thực hiện.

If Jesus as a human being, en rapport with his soul, becomes a transmitter of light to the sons of men, so we can extend the concept and think of humanity as a whole with all minds held steady in the light, transmitting to lower kingdoms in nature that spiritual energy which will raise them up into heaven. That is the work of humanity. We are so occupied with our own problems that we forget the larger picture. It is to be noted again that the keeper of the cattle, the form aspect, was also killed but the shepherd and the cattle were raised up in the golden cup. Here you have the Holy Grail; and so the work was accomplished. The World Savior had fulfiled his [199] function. He had lifted up humanity. That is what all world saviors have done. They all did what, to a greater extent, Christ did.

Chúng ta thường nghe về sự thất bại của Cơ Đốc giáo. Tôi không thấy có sự thất bại nào trong Thiên Cơ. Có thể là sự chậm chạp, nhưng liệu các bạn có biết rằng nếu sự tiến hóa diễn ra quá nhanh, điều đó sẽ tai hại đến mức nào, nếu con người bị kích thích quá mức trước khi họ sẵn sàng thì sẽ nguy hiểm ra sao không? Mọi huấn sư đều biết rõ những nguy hiểm của sự kích thích quá mức, những thảm họa xảy ra khi một người thiết lập những tiếp xúc nhất định trước khi cơ cấu của họ được điều chỉnh phù hợp. Các Đấng Cứu Thế phải làm việc một cách chậm rãi, nhưng thời gian không có ý nghĩa gì đối với các Ngài.

We hear about the failure of Christianity. I do not see failure anywhere in the Great Plan. Perhaps slowness, but do you know how disastrous it would be if evolution were too rapid, how dangerous it would be if people were over-stimulated before they were ready? All teachers know the dangers of over-stimulation, the disasters that occur when a person makes certain contacts before the mechanism is sufficiently tuned up. World saviors have to work slowly, but time means nothing to them.

Thuật ngữ “Đấng Cứu Thế” cho đến nay vẫn gắn liền với hình ảnh của một Người Con Vĩ đại của Thượng Đế xuất hiện từ Nhà của Cha, được nhân loại triệu gọi bởi nhu cầu cấp thiết để thực hiện một sứ mệnh vĩ đại. Xuyên suốt các thời đại, các Ngài đã đến, nhập thế trong thân xác hồng trần, làm việc qua một bản chất cảm xúc và sở hữu trí tuệ siêu việt. Qua cuộc sống của mình, các Ngài đã nêu gương để nhân loại có thể noi theo; qua lời dạy, các Ngài đã vang lên âm điệu, truyền đạt thông điệp mà nhân loại cần để tiến lên bước kế tiếp; qua hành động, các Ngài đã thể hiện sự phụng sự, đi khắp thế gian để làm điều thiện, và tên tuổi các Ngài vẫn còn vang vọng qua các thời đại. Để một người còn được nhớ đến trong tâm trí nhân loại suốt hàng ngàn năm, hẳn người đó phải là một nhân vật phi thường. Trong khi hầu hết chúng ta đều bị lãng quên chỉ sau hai mươi năm.

The term, world savior, has until now been associated with the thought of the emergence of a great son of God out of the Father’s home, called by the need of humanity to do a great work. Down the ages they have come, dwelt in physical bodies, worked through an emotional nature and have been exceedingly intelligent. They have by their lives set an example that we may follow in their steps; by their words they have sounded the note, the message that humanity needed in order to take the immediate next step forward. In their acts they have given a demonstration of service, gone about the world doing good, and their names have stayed with us down the ages. You must be a very dominant figure to remain in the minds of men for thousands of years. Most of us are forgotten in twenty.

Significant Aspect of the Sign—Khía cạnh Ý Nghĩa của Dấu hiệu

Dấu hiệu Song Ngư đánh dấu một vị trí tam giác trên thiên giới, một biểu tượng của thực tại. Dấu hiệu này chi phối đôi chân, do đó ý niệm về việc dấn bước trên Thánh đạo và đạt đến mục tiêu đã trở thành sự mặc khải tinh thần chủ đạo của thời đại Song Ngư.

The sign Pisces marks a triangular place in the heavens, a symbol of reality. This sign rules the feet and hence the idea of treading the Path and attaining the goal has been the underlying spiritual revelation of the Piscean age.

Song Ngư cũng là dấu hiệu của cái chết dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Đôi khi đó là cái chết của thể xác, hoặc có thể là sự chấm dứt của một sự ngu muội cũ, một mối quan hệ không mong muốn kết thúc, hay sự tận hiến đối với một hình thức tư tưởng tôn giáo đã kìm giữ bạn giờ đây chấm dứt, và bạn sẽ xuất hiện, đặt chân lên một con đường mới. Đây là dấu hiệu của cái chết đối với phàm ngã. Nếu chúng ta có thể từ bỏ ý niệm rằng phàm ngã là tấm màn che phủ, thì chúng ta sẽ sẵn lòng để buông bỏ nó. Nó cũng tượng trưng cho cái chết của một Đấng Cứu Thế thế gian, vì đây là dấu hiệu của sự đóng đinh và đánh dấu sự kết thúc của một chu kỳ hoàng đạo.

Pisces is also the sign of death in various aspects. The death of the body sometimes, or it may be that an old foolishness has come to an end, an undesirable friendship will cease, devotion to some religious form of thought that has held you will now [200] end and you will emerge and set your feet upon a new path. It is the sign of death to the personality. If we could give up the idea of the personality veils, we would be willing to let the personality go. It also means the death of a world savior for it is the sign of crucifixion and marks the end of a zodiacal cycle.

Có ba dấu hiệu của sự cứu rỗi trong Hoàng đạo. Thứ nhất là Sư Tử, nơi phát ra thông điệp đến con người: “Hãy tự mình rèn luyện sự cứu rỗi của ngươi.” Vì vậy, trong dấu hiệu Sư Tử, con người quyết tâm đứng vững trên đôi chân của mình, y trở nên kiêu hãnh và khẳng định bản thân, nhưng điều này là cần thiết cho sự cứu rỗi, vì chỉ khi thử nghiệm khả năng của mình, y mới đạt đến điểm nơi một tầm nhìn rộng lớn hơn xuất hiện. Dấu hiệu thứ hai của sự cứu rỗi là Nhân Mã, dấu hiệu của sự phụng sự và im lặng, nơi con người từng khẳng định cái tôi, sau khi đã mệt mỏi với việc nói về bản thân và tự đẩy mình lên trước, đánh mất chính mình trong mục tiêu và phụng sự một cách lặng lẽ. Sau đó, chúng ta đến với dấu hiệu thứ ba, Song Ngư, dấu hiệu của các Đấng Cứu Thế thế gian.

There are three signs of salvation in the Zodiac. First, Leo, where the word goes out to the human being, “work out your own salvation”. So we have in Leo the man determined to stand on his own legs, he becomes bumptious and assertive but this is necessary to salvation because only by trying out his equipment will he arrive at the point where a broader view appears. The second sign of salvation is Sagittarius, the sign of service and silence, where the assertive man, tired of talking of himself and pushing himself forward, loses sight of himself in the goal and silently serves. Then we come to the third sign Pisces, that of world saviors.

Chòm sao đầu tiên trong Song Ngư là cụm sao kỳ lạ có tên “Dải Băng,” kết nối hai con cá, một con hướng thẳng về phương bắc và con kia bơi theo đường chân trời. Con cá hướng về phương bắc là biểu tượng của người chí nguyện đang hướng về các huyền nhiệm, trong khi con cá trên đường chân trời đại diện cho con người trung bình.

The first constellation in Pisces is that curious cluster of stars called “The Band”, connecting the two fishes, one fish headed straight to the north and the other swimming on the horizon. The fish headed toward the north is the symbol of the aspirant to the mysteries while the fish on the horizon represents the average person.

Chòm sao thứ hai là Andromeda, người phụ nữ bị xiềng xích. Có ba người phụ nữ trong các chòm sao: Cassiopeia trong Bạch Dương, tượng trưng cho vật chất ngự trên ngai của nó, đang thống trị; Coma Berenices trong Xử Nữ, người đã hiến dâng mái tóc của mình để phụng sự, tượng trưng cho linh hồn mới bắt đầu khẳng định chính nó; và Andromeda, người phụ nữ bị xiềng xích trong Song Ngư, đại diện cho vật chất đã được chế ngự.

The second constellation is Andromeda, the chained woman. We have three women among the constellations, Cassiopeia in Aries representing matter seated in her chair, dominant; Coma Berenices in Virgo who sacrificed her hair to be of service, representing the soul only beginning to assert itself. Andromeda, the chained woman in Pisces represents matter harnessed.

Chòm sao thứ ba trong Song Ngư là vị vua mang tên Cepheus, chồng của Cassiopeia và cha của Andromeda. Điều này gợi ý rằng “Nhà Vua” tượng trưng cho Khía cạnh Tinh thần hay Khía cạnh Cha.

The third constellation in Pisces is the King named Cepheus, the husband of Cassiopeia and the father of Andromeda. This suggests that “The King” represents the Spirit or Father aspect.

Trong thiên nhiên, có giới nhân loại, và bên trên nó là các giới tinh thần và vũ trụ, trong khi bên dưới nó là các giới động vật, thảo mộc và khoáng vật. Công việc của những người con thông tuệ của Thượng Đế là đóng vai trò như những kẻ truyền dẫn, thông qua trí tuệ, năng lượng tinh thần, để cứu rỗi và tiếp sinh lực cho tất cả các giới thấp hơn trong thiên nhiên.

There is in nature the human kingdom and above it are other kingdoms, spiritual and cosmic, and below it there are the animal, vegetable and mineral kingdoms. The work of the intelligent sons of God is to act as transmitters, via the mind, of [201] spiritual energy, which will save and vitalize all lower kingdoms of nature.

The Second Coming of the Christ—Sự Tái Lâm của Đức Christ

Làm thế nào Đấng Cứu có thể đến? Ngài có thể đến theo cách Ngài đã đến trước đây, trong một thân xác vật lý với những hạn chế tất yếu của nó. Tuy nhiên, ngày nay, trên thế giới đang xuất hiện những năng lực mới mà trước đây chưa từng biểu lộ khi Ngài đến. Chúng ta nhạy cảm hơn bao giờ hết; chúng ta cởi mở với tư tưởng của nhau hơn, và nếu một tư tưởng gia đầy quyền năng như Đức Christ—dù chúng ta hiểu từ đó theo nghĩa nào đi nữa—có sự hoà hợp với các vấn đề thế giới, thì dường như Ngài có thể thử một phương pháp khác.

How can the World Savior come? He might come as he came before, in a physical body with its incidental handicaps. There are emerging in the world today new faculties that were not demonstrating when he came before. We are much more sensitive than we ever were; we are wide open to each other’s thoughts for one thing, and if such a potent thinker as the Christ, whatever we may mean by that word, is en rapport with world affairs, it seems to me he might try another method.

Ngài có thể làm việc với những người của Ngài ở mọi quốc gia, phủ bóng lên các đệ tử của Ngài ở bất cứ nơi nào họ được tìm thấy, và bởi vì linh hồn của Ngài và linh hồn của họ là một, Ngài có thể truyền đạt cho họ Thiên Cơ, chỉ ra những khuynh hướng, ban cho họ thông điệp mới, và lặp lại chính mình ở mỗi quốc gia. Điều này thực ra đã và đang diễn ra ngày nay. Ở khắp mọi nơi đều có những người biết—tôi không nói đến những người tuyên bố rằng họ biết. Nhưng có một nhóm người hiện đang tích hợp lại, những người không gây ồn ào, không quan tâm đến bản thân mình, nhưng đang gánh vác trọng trách lãnh đạo nhân loại. Họ đang khởi xướng những phong trào có rung động mới, họ đang nói những điều mang tính phổ quát, họ đang công bố những nguyên lý mang tính vũ trụ, họ bao trùm chứ không loại trừ, họ không bận tâm đến thuật ngữ mà một người sử dụng; họ nhấn mạnh rằng mỗi người nên giữ cấu trúc nội tại của chân lý cho riêng mình và không áp đặt nó lên bất kỳ ai khác. Họ nhận ra nhau bất cứ khi nào họ gặp gỡ, họ nói một ngôn ngữ phổ quát, họ thể hiện ánh sáng phổ quát, họ là những người phụng sự và không có chút quan tâm nào đến bản thân mình.

He may work with his own in every land, over-shadowing his disciples wherever they are found, and because his soul and their souls are one, communicate to them the Plan, indicate to them the tendencies, give them the new message, and repeat himself in every country. It is already happening today. in every country there are to be found those who know; I did not say those who say they know. But there is a group of human beings, integrating now, who make no noise, are not interested in themselves, but upon whom is laid the burden of leading humanity. They are starting movements that have in them the new vibration, they are saying things that are universal in their tone, they are enunciating principles that are cosmic, they are inclusive and not exclusive, they do not care what terminology a man uses; they insist that a man shall keep his own inner structure of truth to himself and not impose it on any one else, they recognize each other wherever they meet, they speak a universal language, they demonstrate the universal light, they are servers and they have no interest in themselves.

Tôi tin chắc rằng sẽ không có một Đấng Cứu Thế Hoàn Cầu đơn lẻ nào nhập thể trong một thân xác vật lý đến với chúng ta. Tôi tin vào một Đấng Cứu Thế thế gian, nhưng tôi tin rằng Ngài sẽ cứu thế giới thông qua nhóm. Tôi tin rằng Ngài sẽ làm việc thông qua những người của Ngài; rằng Ngài đang đào luyện những con người ngay lúc này để đến một ngày nhóm này sẽ trở nên đầy quyền năng đến mức, thông qua tham thiền thầm lặng và sức mạnh của sự phụng sự thế gian, nó sẽ được công nhận là Đấng Cứu Thế—nhưng không phải trong thời đại của chúng ta.

I am convinced that no individual World Savior, utilizing a physical body, will come to us. I believe in that individual World Savior, but I believe that he will save the world through the group. I believe that he will work through his own; that he [202] is training people now so that the day will come when this group will be so potent through its silent meditation and the force of its world service, that it will be recognized as the Savior; but not in our day.

Editor’s Note: (written in 1958)

Khi Bà A.A.B. đưa ra tuyên bố này vào năm 1936, dường như quan điểm của ashram khi đó là tình trạng của nhân loại không cho phép có điều gì hơn ngoài sự phủ bóng của Đức Christ. Khi quyển Sự Tái Lâm Của Đức Christ, được Chân sư Tây Tạng truyền đạt, xuất bản vào năm 1948, người ta đã thấy rằng sự kỷ luật của chiến tranh, sự hủy hoại các giá trị vật chất, những đau khổ và sự trưởng thành về trí tuệ của nhân loại đã tạo ra một hiệu ứng vượt ngoài mong đợi của Thánh đoàn. Trong cuốn sách về sự tái lâm, có những tuyên bố sau đây: “Điểm quyết định, như nó được gọi trong tất cả các vòng tròn của Thánh đoàn, đã được đạt tới trong khoảng thời gian từ Kỳ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1936 đến Kỳ Trăng Tròn tháng Sáu năm 1945. Do đó, điểm quyết định này kéo dài trong chín năm, một khoảng thời gian tương đối ngắn; kết quả là quyết định của Đức Christ để tái xuất hay trở lại sự hiện diện hữu hình trên Trái Đất sớm nhất có thể và sớm hơn đáng kể so với kế hoạch ban đầu.”

When A.A.B. made this statement in 1936 it appears to have been the ashramic view that the status of humanity would not permit more than an over-shadowing by the Christ. When The Reappearance of the Christ, dictated by the Tibetan, appeared in 1948, the discipline of the war, the destruction of material values, the suffering and the mental growth of humanity had produced an effect which we are told exceeded the expectations of the Hierarchy. In the book on the reappearance the following statements are found: “The point of decision, as it is called in all hierarchical circles, was reached during the period the Full Moon of June 1936 and the Full Moon of June 1945. The point of decision covered, therefore, nine years, a relatively brief time; it resulted in the decision arrived at by the Christ to reappear or return to visible presence on Earth as soon as possible and considerably earlier than had been planned.”

Đây thực sự là một điều trọng đại để nhận ra rằng nhân loại có thể ảnh hưởng rõ rệt đến thời gian và cách thức của sự tái lâm của Đức Christ chỉ bằng cách thay đổi mức độ tiếp nhận của mình. Chúng ta đã nhiều lần được dạy rằng chỉ nhân loại mới có thể quyết định những thời điểm quan trọng này. Đây là một minh chứng đầy kịch tính về tiềm năng và trách nhiệm của nhân loại trong việc đẩy nhanh tiến trình tiến hóa.

It is indeed a momentous thing to realize that humanity could so notably affect the time and manner of the reappearance of the Christ by a change in its receptivity. We have repeatedly been told that only humanity could condition these points. Here is a dramatic instance of humanity’s potential and responsibility in speeding up the evolutionary process.

The New Group of World Servers—Đoàn Người Mới Phụng Sự Thế Gian

Một nhóm như vừa được mô tả đã thực sự tồn tại. Có hai điều mà chúng ta cần làm. Trước hết, học cách nhận ra rung động mới khi nó phát ra từ các đệ tử ở bất kỳ đâu. Thứ hai, tự rèn luyện để trở thành một phần của nhóm đó. Dấu ấn của những con người này không phải là sự khẳng định bản thân; họ quá bận rộn với công việc cứu rỗi nên không có thời gian để nói về chính mình. Họ làm việc thông qua tham thiền, điều này giúp họ duy trì sự kết nối với phần tinh thần, vốn chính là bản thể của họ, và do đó duy trì sự liên hệ với Sự sống Vĩ đại, Đấng Cứu Thế Thế Gian, Đấng đổ tràn năng lượng và mãnh lực của Ngài qua họ và hướng đến thế gian. Họ định hướng tâm trí của họ theo hướng đó, phụng sự một cách thông tuệ và không vội vã.

Such a group as has just been described already exists. There are two things for us to do. First, to learn to recognize the new note as it comes from disciples wherever found and, secondly, to fit ourselves to form part of that group. The hallmark of those people is not self-assertiveness; they are too busy doing salvage work to have time to talk about themselves. They work through meditation, which keeps them in touch with the spirituality that is themselves, and therefore is in touch with the Great Life, the World Savior, who pours his force and energy through them and toward the world. They orient their minds in that direction, serve intelligently and are not in a hurry. [203]

Thông điệp đến với họ từ thế giới nội giới được diễn đạt bằng những lời mang tính biểu tượng: “Điều ta nói với các con trong bóng tối, hãy tuyên bố nó trong ánh sáng.” Mỗi người sẽ nhận được một thông điệp khác nhau tùy theo nhu cầu của những người xung quanh mình, và họ sẽ chủ động đi vào bóng tối để rồi truyền tải thông điệp trong ánh sáng. Do đó, họ không bị ràng buộc bởi bất kỳ giáo điều hay tín lý nào, vì họ đã nhận được lời dạy trong bóng tối, điều mà họ đã tự mình thấu hiểu qua những đấu tranh và thử thách nội tâm. Họ đáp ứng nhu cầu của đồng loại, và thông điệp của họ là thông điệp của Đức Christ: “Ta ban cho các con một điều răn mới, rằng các con hãy yêu thương lẫn nhau.” Điều này không phải là tình cảm hời hợt. Chúng ta hãy yêu thương và nhân từ. Đó chỉ là hành vi đúng đắn thông thường, nhưng tình yêu mà Đức Christ nhấn mạnh chính là sự thấu hiểu thông tuệ và sự trân trọng đối với nhu cầu của mỗi cá nhân, đúng với bản chất của họ. Khi đối diện với nhu cầu cấp bách của nhân loại, bạn sẽ không có thời gian để suy nghĩ về việc “cảm thấy yêu thương” theo nghĩa thông thường. Bạn có thể tạo ra một bầu không khí xung quanh mình đến mức họ tự mình tìm ra giải pháp cho vấn đề của họ. Đó mới là cách làm việc thực sự. Chùng nào bạn còn bị ám ảnh bởi việc “thể hiện tình yêu”, thì bạn vẫn chỉ đang bận tâm với chính phàm ngã của mình.

The message that comes to them from the inner side is couched in the symbolic words, “What I tell you in the dark, that speak you in the light.” Each one will be told a different thing according to the need of the people around him, and will deliberately go into the dark in order to deliver a message in the light. Therefore, they are tied by no dogmas or doctrines because they have the word which has come to them in the dark, which they have wrought out for themselves in the strife and stress of their own souls. They meet the need of their fellow men, and theirs is the message of Christ, “A new commandment I give you that you love one another.” This is no sentiment. Let us be loving and kind. That is just decent behavior; but the love the Christ enunciated is an intelligent understanding and appreciation of the need of the individual just as you find him. When you are up against the desperate need of people you have no time to think about “being loving” in the usual sense. You can perhaps create such an atmosphere around yourself that they will think themselves through to their own solution. That is the real way to work. As long as you are occupied with being loving you are occupied with your own personality.

Câu nói “Ta ban cho các con một điều răn mới” có thể được tóm gọn trong từ “bao gồm”, dấu ấn của Kỷ Nguyên Mới, tinh thần phổ quát, sự đồng nhất, hợp nhất với toàn thể đồng loại. Đó chính là tình yêu thương, và nó sẽ khiến bạn luôn bận rộn; bạn sẽ không có thời gian để nói về tình thương mà sẽ phải hành động—từ những việc lớn đến những việc nhỏ nhặt, từ những điều không quan trọng đến những điều quan trọng.

“A new commandment I give you” can be summed up in “inclusiveness”, the hallmark of the New Age, the universal spirit, identification, oneness with all your fellowmen. That is love and it will keep you busy; you will have no time to talk about love, you will be busy doing things, big things and little things, unimportant and important things.

Vậy, chúng ta phải rèn luyện bản thân như thế nào để đáp ứng yêu cầu đó, để sở hữu những phẩm chất sẽ tự động đưa chúng ta vào nhóm những người phụng sự thế gian? Bạn sẽ không đạt được điều đó bằng cách chỉ nói về nó, hay chỉ đánh giá lý thuyết về vấn đề này. Bạn sẽ đạt được điều đó bằng cách làm đúng đắn mọi việc kế tiếp. Điều đó nghe có vẻ không hấp dẫn, nhưng bất cứ điều gì là bổn phận của bạn, hãy làm nó. Hãy rèn luyện thái độ nội tâm đúng đắn và mở lòng với toàn thể đồng loại. Hãy học tham thiền, và thực sự học tham thiền. Tôi không nói về việc đi vào im lặng, ngồi xuống và có một khoảng thời gian an lạc, hy vọng rằng bạn sẽ cảm thấy tốt hơn khi đứng dậy. Khi được thực hành đúng đắn, tham thiền là một công việc trí tuệ đầy thử thách, vì nó đòi hỏi phải định hướng tâm trí về phía linh hồn—và bạn không thể làm điều đó ngay lập tức. Nó có nghĩa là khi bạn đã học cách tập trung tâm trí vào linh hồn, bạn phải giữ nó vững vàng—điều mà bạn cũng chưa thể làm được. Và khi bạn đã học cách giữ vững nó, bạn phải học cách lắng nghe trong tâm trí điều mà linh hồn đang nói với bạn—và đó là điều bạn vẫn chưa làm được. Sau đó, bạn phải học cách lấy những điều linh hồn đã nói với bạn, định hình chúng thành lời và ý tưởng, rồi truyền tải chúng xuống bộ não đang chờ đợi của mình. Đó chính là tham thiền, và chính bằng cách thực hành quy trình này, bạn sẽ trở thành một người phụng sự thế gian, bởi khi đó bạn sẽ là hiện thân của những gì bạn đã đạt được. Bạn sẽ tự động nhận thấy bản thân được phủ bóng bởi Đấng Vĩ Đại, Đấng có sứ mệnh nâng nhân loại ra khỏi bóng tối để bước vào ánh sáng, từ điều hư ảo đến điều chân thực.

How shall we fit ourselves to meet that requirement, to possess those characteristics which automatically put us into the group of world servers? You will never get there by talking about it, or by theoretical appreciation of the problem. You will get there by doing the next thing correctly. That sounds very uninteresting, but whatever is your duty, do it. Cultivate the right inner attitude and be wide open to all your fellow men. Learn to meditate, and really learn to meditate. I am not [204] talking of entering into the silence, of sitting down and having a blissful and peaceful time emoting, hoping that you will get up feeling better. Meditation when rightly carried forward is hard mental work for it means orienting the mind to the soul, and you cannot do it. It means that when you have learned to focus your mind on the soul you must hold it steady, which you cannot do; and when you have learned to do that you must learn to listen in your mind to what the soul is telling you, and that you cannot do. Then you must learn to take what the soul has told you and form it into words and phrases and throw it down into your waiting brain. That is meditation, and it is by following that process that you will become a world server for you will then be the force of what you have accomplished. You will automatically find yourself over-shadowed by that Great One whose mission it is to lift humanity out of darkness into light, from the unreal into the real. [205]

Lecture by A.A.B.—1936. Edited and condense
books/24books/the_labours_of_hercules/labor_xii.txt · Last modified: by kevinpham1983

Donate Powered by PHP Valid HTML5 Valid CSS Driven by DokuWiki