Vì thế, nó chi phối đời sống trong tam giới, do tình trạng thiếu minh triết của con người đang đầu thai ở cõi trần cũng có phần tương ứng trên các cảnh giới kia. Đó là sự hạn chế đối với chính Tinh thần, và là hệ quả tất yếu khi Tinh thần khoác lấy hình thể. Đơn vị sống tinh thần khi sinh ra vốn mù lòa và không cảm nhận được gì. Trong những thời kỳ đầu nhập vào hình thể và trong các chu kỳ đầu tái sinh, nó hoàn toàn không ý thức được điều gì. Nhưng nó phải làm thế nào để biết được những gì ở chung quanh mình. Để thực hiện điều này, trước hết nó phải phát triển các giác quan để có thể tiếp xúc và hiểu biết. Người ta đã biết rõ về phương pháp và quá trình mà con người phát triển ngũ quan tức là năm con đường tiếp cận cái phi-ngã. Bất cứ giáo trình chuẩn nào về tâm lý học cũng đều có thể cung cấp kiến thức cần thiết này. Ở đây, cần lưu ý ba yếu tố liên quan đến đơn vị sống tinh thần:
avidya on the physical plane as experienced by man in incarnation is to be found on all planes. It is a limitation of Spirit itself and a necessary corollary of form-taking. The spiritual unit is born blind and senseless. It comes into form at the beginning of the ages and cycles of rebirth in a state of total unawareness. It has to become aware of that which is around it; to do this it has first to develop the senses whereby contact and awareness become possible. The method and process through which the human being has evolved fivesenses or avenues of approach to the not-self are well known and any standard physiological text book can supply the needed information. Three factors must be borne in mind in connection with the spiritual unit:
1. Các giác quan cần được phát triển,
1. The senses have to be evolved,
2. Sau đó phải nhận biết và sử dụng chúng,
2. Their recognition and use must follow,
3. Kế đến là một thời kỳ mà con người tinh thần sử dụng các giác quan để đạt được những điều mình muốn. Và khi làm thế, y tự đồng hóa với cái khí cụ biểu hiện của mình.
3. A period succeeds wherein the spiritual man utilizes the senses in the fulfillment of his desire, and in so doing identifies himself with his apparatus of manifestation.
Y bị mù lòa về hai phương diện, vì không những bị mù lòa và vô cảm khi sinh ra y cũng bị mù lòa về mặt trí năng. Y không thấy được thực tính của chính mình, hoặc thấy được thực chất của các sự vật. Y nhầm lẫn khi cho rằng mình là hình hài vật chất này, và cứ mãi nghĩ như thế qua nhiều kiếp sống. Y không hề có ý thức về giá trị hay tỉ lệ đúng. Dù vốn là thực tại tinh thần, y chỉ xem mình là phàm nhân (cả ba hạ thể của y) thuộc về vật chất, bất tịnh, có cuộc sống phù du và đang đau khổ. Y không thể tự tách khỏi các thể của mình. Các giác quan là một phần của các thể.
He is doubly blind, for he is not only born blind and senseless but he is mentally blinded also, and does not see himself or things as they are but makes the mistake of regarding himself as the material form, and this he does for many cycles. He has no sense of values or of proportion but looks upon the transient, suffering, unclean, material, lower man (his three sheaths in their totality) as himself, the reality, He cannot dissociate himself from his forms. The senses are part of the forms; they are not the spiritual man, the
