ý định vô kỷ, phán đoán khôn ngoan, và hoạt động với tình thương. Nó không còn dấu vết nào của mong muốn được phần thưởng hay công nhận. Điều này đã được H. P. Blavatsky diễn tả rất hay trong quyển Tiếng nói của Im lặng, qua những lời lẽ sau đây:
help, unselfish intent, wise judgment and loving activity. It is free from any wish for reward or recognition. This has been beautifully covered by H. P. Blavatsky in The Voice of the Silence in the following words:
“Hãy để Linh hồn bạn lắng nghe mọi tiếng kêu đau khổ như đóa hoa sen mở lòng đón nhận ánh nắng ban mai.
“Let thy Soul lend its ear to every cry of pain like as the lotus bares its heart to drink the morning sun.
Đừng để nắng gắt làm khô đi dù chỉ một giọt nước mắt bi thương trước khi chính bạn lau sạch nó khỏi mắt của người khốn khổ.
Let not the fierce sun dry one tear of pain before thyself hast wiped it from the sufferer's eye.
Nhưng hãy để mỗi giọt nước mắt cháy bỏng của con người rơi vào tim bạn và vẫn còn ở đó. Đừng bao giờ gạt bỏ nó nếu nguyên nhân gây đau khổ chưa bị loại trừ.
But let each burning human tear drop on thy heart and there remain; nor ever brush it off until the pain that caused it is removed.
Hỡi kẻ có tâm từ ái, những giọt nước mắt này là dòng nước tưới mát cánh đồng từ thiện bất diệt.”
These tears, O thou of heart most merciful, these are the streams that irrigate the fields of charity immortal.”
Với hạnh vô dục, người chí nguyện phụng sự không hề bị ràng buộc bởi nghiệp quả của những điều y làm cho người khác. Như chúng ta biết, chính sự ham muốn của mỗi người ràng buộc họ vào tam giới, và vào người khác. Tất nhiên, “bị ràng buộc vào” thì khác hẳn “sự hợp nhất với.” một đàng thì đầy dục vọng, gây nên sự trói buộc và hậu quả. Đàng kia thì không còn ham muốn, mang lại sự “đồng nhất với” và không có hậu quả ràng buộc trong tam giới. Hạnh vô dục có đặc tính trí tuệ hơn hai trạng thái kia. Có thể thấy rằng hạnh vô dục mang đặc tính của hạ trí. Lòng nhân hậu là kết quả về mặt tình cảm của lòng thương xót vô tư, và bao gồm nguyên khí kama hay cảm dục. Trong khi lòng từ bi cũng liên quan đến cõi trần, bởi vì nó là sự biểu hiện của hai trạng thái kia ở cõi hồng trần. Đó là khả năng thực sự tự đồng nhất với người khác trong mọi tình huống trong tam giới.
Through dispassion, the aspirant and server stands free from the karmic results of his activity on behalf of others. It is, as we know, our own desire which binds us to the three worlds and to others. “Binding to” is of a different nature to “union with.” One is full of desire and causes obligation and effects; the other is free from desire, produces “identificationwith” and has no binding effects in the three worlds. Dispassion has more of a mental quality than the other two. It might be noted that dispassion brings in the quality of lower mind, tenderness is the emotional result of dispassionate compassion and involves the kamic or astral principle, whilst compassion concerns also the physical plane for it is the working out into physical manifestation of the two other states. It is the practical ability to identify oneself with another in all the three world conditions.
Sự hợp nhất này là do tính duy nhất của chân ngã
This union is the result of the egoic oneness
