Ý chí là đặc trưng của tinh thần, biểu lộ mục đích tiến hóa và sự chế ngự. Khi khai mở và sử dụng luân xa tim, phương diện bác ái-minh triết cũng được sử dụng tương tự. Bấy giờ tình thương của Thượng Đế biểu lộ rõ trong đời sống và công việc của mỗi người. Vì trí tuệ của Thượng Đế là bác ái, và bác ái của Thượng Đế là sự thông tuệ. Cả hai phương diện này của cùng một phẩm tính thiêng liêng duy nhất được đưa vào hoạt động để thực thi ý chí và chủ đích của Ngài. Điển hình xuất sắc của phẩm tính này cho người Đông phương là Đấng Christ, và cho người Ấn Độ là Đức Krishna. Phẩm tính này cũng phải được phản ánh và biểu hiện trong mọi người.
functioning activity. It is the characteristic of spirit, and demonstrates purpose and control. Through the unfolding and use of the heart centre the love-wisdom aspect is similarly brought into use and the love of God is seen working out in a man's life and work. For the mind of God is love, and the love of God is intelligence, and these two aspects of one great quality are brought into play for the working out of His will and purpose. Of this the Christ was the outstanding example to the Occident, as Krishna was to India, and this has to be reflected and manifested also in every man.
35. Linh hồn trải qua các cặp đối cực vì không thể phân biệt được giữa phàm ngã và purusa (hay tinh thần). các ngoại thể sở dĩ có là để cho con người tinh thần sử dụng (hay thu thập kinh nghiệm). Khi tham thiền về điều này, hành giả sẽ có nhận thức trực giác về bản tính tinh thần.
35. Experience (of the pairs of opposites) comes from the inability of the soul to distinguish between the personal self and the purusa (or spirit). The objective forms exist for the use (and experience) of the spiritual man. By meditation upon this, arises the intuitive perception of the spiritual nature.
Một lần nữa, chúng ta lại có lối chuyển ngữ khá lỏng lẻo của câu kinh trong bản chính. Tuy nhiên, lối dịch này lại chuyển đạt đúng ý nghĩa.
Again we have quite a loose paraphrase of the original text, but one which nevertheless conveys the correct interpretation.
Trong các câu trước, chúng ta đã thấy con đường nhỏ hẹp mà hành giả phải tiến bước giữa các cặp đối cực (qua thực hành phân biện và vô dục). Đó là con đường quân bình, thăng bằng, con đường trung đạo cao cả. Câu này có tính cách nhận xét về giai đoạn vừa kể trong kinh nghiệm của linh hồn, và nêu lên các bài học sau đây:
We have seen in the preceding sutras that the narrow path to be trodden between the pairs of opposites (through the practice of discrimination and dispassion) is the path of equilibrium, of balance, the noble middle path. This sutra is in the nature of a comment upon this stage of the soul's experience and points out the following lessons:
