từ “sama” chỉ về khả năng của trí tuệ chất (hay chitta) có thể khoác lấy hình thể hay tự biến thái theo các ấn tượng từ bên ngoài. Các ấn tượng ngoại lai này đến với thể trí qua các giác quan. Khi người chí nguyện thực hành yoga có thể kiểm soát được các cơ quan dùng cho nhận thức giác quan của mình, để chúng không còn truyền đến thể trí các phản ứng của chúng đối với những gì cảm nhận được, thì có hai điều xảy ra:
the word “Sama” has reference to the faculty of the mind-stuff (or chitta) to take form or to modify itself according to the external impressions. These external impressions reach the mind via the senses. When the aspirant to yoga can control his organs of sense-perception so that they no longer telegraph to the mind their reactions to that which is perceived, two things are brought about:
a. Bộ não của thân xác trở nên yên lặng,
a. The physical brain becomes quiet and still,
b. Trí tuệ chất hay thể trí, chitta, không còn khoác lấy những biến thái khác nhau và cũng trở nên yên lặng.
b. The mind stuff or the mental body, the chitta, ceases to assume the various modifications and becomes equally still.
Đây là một trong những giai đoạn đầu của samadhi, nhưng không phải là trình độ samadhi của bậc hoàn thiện. Đây là một tình trạng hoạt động cường liệt ở bên trong thay vì bên ngoài. Đây là tâm thái tập trung, chuyên nhất. Tuy nhiên, hành giả ứng đáp với các ấn tượng từ những lĩnh vực tế vi hơn, và ứng đáp với các biến thái phát sinh từ những nhận thức còn thâm sâu hơn nữa. Y ý thức một lĩnh vực hiểu biết mới, dù vẫn chưa biết đó là gì. Y xác định rằng có một thế giới không thể biết được qua trung gian của năm giác quan, nhưng sẽ hiển lộ khi dùng trí tuệ đúng cách. Y hiểu thâm nghĩa khả dĩ có của một câu kinh sau này do Charles Johnston chuyển dịch, phát biểu ý tưởng nói trên qua ngôn từ đặc biệt rõ ràng:
This is one of the early stages of samadhi but is not the samadhi of the adept. It is a condition of intense internal activity instead of external; it is an attitude of one-pointed concentration. The aspirant is, however, responsive to impressions from the subtler realms and to modifications arising from those perceptions which are still more subjective. He becomes aware of a new field of knowledge, though as yet he knows not what it is. He ascertains that there is a world which cannot be known through the medium of the five senses but which the right use of the organ of the mind will reveal. He gets a perception of what may lie back of the words found in a later sutra as translated by Charles Johnston, which expresses this thought in particularly clear terms:
“Người tri kiến chính là cái thấy thuần khiết . . . y nhìn ra xuyên qua lớp áo là cái trí.”(Quyển II. Câu 20.)
“The seer is pure vision . . . he looks out through the vesture of the mind.” (Book II. Sutra 20.)
Câu kinh trước bàn về những gì có thể
The preceding sutra dealt with what may be
