con người phải sống trong lãnh địa của sự chết – tức là lĩnh vực sự sống cõi trần, vốn là cái chết thật sự của tinh thần. Ngài đã thực hiện một đóng góp độc đáo vào giáo lý mà Đức Hercules và Đức Vyasa đã đưa ra, và bổ sung vào cấu trúc chân lý mà các Ngài đã dựng nên. Như thế Ngài đã dọn đường cho Đức Christ. Thời gian giữa hai vị đại Huấn Sư này, là Đức Phật và Đức Christ, những vị huấn sư cấp thấp hơn đã xuất hiện để mở rộng và bổ sung vào chân lý căn bản đã được truyền đạt; Đức Sankaracharya là vị quan trọng nhất trong số này, Ngài đã đưa ra giáo huấn sâu sắc về bản chất của Chân Ngã. Vị huấn sư trong Chí Tôn Ca (The Bhagavad Gita), là Shri Krishna, cũng phải được ghi nhận, bởi vì nhiều người tin Ngài là một tiền kiếp của Đức Christ.
man found himself living in the realm of death—the realm of physical living, which is the true death of the spirit. He made a unique contribution to the teaching given by Hercules and Vyasa, and added to the structure of truth which They had erected. Thus He prepared the way for Christ. Between the times of these two great Teachers, the Buddha and the Christ, lesser teachers appeared to amplify and add to the already given basic truths; of these Sankaracharya was one of the most important, giving, as He did, deep instruction upon the nature of the Self. Also the teacher in The Bhagavad Gita, Shri Krishna, must be noted, for many believe Him to be a previous incarnation of the Christ.
Như vậy, sự liên giao với Thượng Đế (và do đó, sự liên giao với đồng loại của chúng ta) được dựa trên những chân lý nền tảng luôn luôn được Con Thượng Đế đưa ra, Vị này –vào bất kỳ giai đoạn đặc biệt nào trên thế gian – là vị Lãnh Đạo ngành giáo dục của Thánh Đoàn.
Thus the fundamental truths upon which relation to God (and, therefore, relation to our fellowmen) is founded are always given out by the Son of God, Who—in any particular world period—is the teaching Head of the spiritual Hierarchy.
Vào đúng ngày giờ, Đức Christ đã đến và đưa ra cho thế gian (chủ yếu thông qua các đệ tử của Ngài) hai chân lý chính đại: một là, sự thật về sự tồn tại của linh hồn con người, hai là, hệ thống phụng sự (nhóm từ này được khuyên dùng) như một phương cách thiết lập những liên giao chính đáng trong nhân loại – với Thượng Đế và với đồng loại của mình. Ngài bảo với con người rằng tất cả họ là các Con Thượng Đế theo cùng ý nghĩa như Ngài; Ngài bảo với họ theo nhiều cách có tính biểu tượng rằng Ngài là ai và Ngài làm gì, và bảo đảm với họ rằng họ có thể làm những việc còn lớn lao hơn Ngài đã làm, vì họ đều thiêng liêng như Ngài. Những việc lớn lao hơn này, nhân loại đã hoàn thành xong trên cõi trần và trong việc chế ngự thiên nhiên của cõi trần, như Đức Christ đã biết rằng con người sẽ làm được, vì Ngài biết những tác động của Định Luật Tiến Hóa. Ngài đã dạy họ rằng phụng sự là chìa khóa của cuộc sống giải thoát, dạy họ kỹ thuật phụng sự thông qua cuộc đời của riêng Ngài như Ngài đã đi
In due time, Christ came and gave out to the world (mainly through His disciples) two major truths: the fact of the existence of the human soul and, secondly, the system of service (this phrase is used advisedly) as a mode of establishing right human relations—to God and to one's fellowmen. He told men that they were all the Sons of God in the same sense that He was; He told them in many symbolic ways who and what He was and assured them that they could do even greater things than He had done, because they were divine as He was. These greater things, humanity has already accomplished upon the physical plane and in its control of nature, as Christ knew men would, because He knew the workings of the Law of Evolution. He taught them that service was the key to the life of liberation, teaching them the technique of service through His own life as He went
