có thể cống hiến cho đồng loại của y là tự giải thoát y ra khỏi sự kiểm soát của cõi đó bằng cách tự mình điều khiển các năng lượng của nó nhờ vào quyền năng của Christ bên trong. Khi đó y sẽ nhận ra rằng những mãnh lực ích kỷ và các năng lượng của ham muốn cá nhân và tình yêu theo cảm xúc sẽ được thay thế bởi một năng lượng sống động mà y có thể cảm nhận theo một cách bao quát, mặc dù cho đến nay nó chưa thể được tiếp nhận trong bản chất thuần khiết của nó; chúng ta gọi năng lượng này là “lòng bác ái của Thượng Đế”. Chính mãnh lực hấp dẫn từ tính, lưu chuyển tự do, ban rải ra ngoài đó dẫn dắt mỗi người hành hương trở về Nhà Cha. Chính mãnh lực đó khuấy động trong tâm nhân loại và tìm cách biểu lộ xuyên qua trung gian của các Đấng hóa thân vĩ đại như Đức Christ; nó hướng dẫn sự khao khát thần bí có nơi mỗi con người, và hoạt động thông qua tất cả các phong trào có mục tiêu là phúc lợi cho nhân loại, thông qua các khuynh hướng đủ loại về nhân đạo và giáo dục, và thông qua tình mẫu tử bản năng có ở khắp nơi. Nhưng căn bản là một cảm thức tập thể, và chỉ trong Kỷ nguyên Bảo Bình, và nhờ sự tái lâm của Đức Christ, mà thực tính của nó sẽ được thấu hiểu đúng đắn và tình bác ái của Thượng Đế sẽ lan tỏa trong tâm mỗi người.
can render his fellowmen is to free himself from the control of that plane by himself directing its energies through the power of the Christ within. He will then find that the self-centred forces and the energies of personal desire and of emotional love will be superseded by a living energy which can be sensed in a large way, though it cannot as yet be appropriated in its pure essence; this energy, we call the “love of God.” It is that free-flowing, outgoing, magnetically attractive force which leads each pilgrim back to the Father's House. It is that force which stirs in the heart of humanity and finds expression through the medium of such great avatars as the Christ; which guides the mystical yearning found in each human being, and works through all movements that have for their objective the welfare of humanity, through philanthropic and educational tendencies of all kinds and through the instinctual motherhood found everywhere. But it is essentially a group sentiency, and only in the Aquarian Age, and as a result of the reappearance of the Christ, will its true nature reach correct understanding and the love of God be spread abroad in every human heart.
Đức Christ đã biết nhiều về cõi giới ảo cảm và ảo tưởng này, và đã thể hiện trong Ngài tình bác ái chân thật đó để có thể chế ngự cõi giới này. Phần nói về ba cám dỗ lớn của Đức Christ trong hoang mạc đã dựa trên ba phương diện của cõi giới ảo cảm, đó là: các ảo tưởng do thể trí tạo ra, ảo cảm của cõi của kinh nghiệm tình cảm và trạng thái rối rắm của những tình huống trần gian. Tất cả các điều này đe dọa gây bối rối cho Ngài; Ngài đã lần lượt đối phó với mỗi chúng nó bằng cách phát biểu một nguyên lý dứt khoát chứ không phải bằng những lập luận dài dòng của một cái trí hay phân tích; từ lĩnh vực kinh nghiệm tam phân đó, Ngài đã tiến lên để yêu thương, giảng dạy và chữa trị. Khi
Of this world of glamour and illusion, Christ knew much, and in Himself demonstrated that true love could control it. Part of the three great temptations of the Christ in the wilderness was based upon the three aspects of world glamour: the illusions which the mind creates, the glamour of the emotional plane of experience and the maze of earthly circumstances. These all threatened to bewilder Him; He met each of them in turn with the enunciation of a clear-cut principle and not with the wordy arguments of an analytical mind; from that field of threefold experience He went forth to love, to teach and to heal. Christ is the great dispeller of world glamour when
