kết tinh và tương đối không mấy hữu ích. Các tu sĩ và các thành viên giáo hội, các giảng sư chính thống và những người bảo thủ với trào lưu chính thống (dù thành thực nhưng cuồng tín) đang tìm cách duy trì những gì đã cũ và đã đủ để làm hài lòng người tìm đạo trong quá khứ, nhưng bây giờ thì không làm được như thế nữa. Những người chân thành nhưng thiếu giác ngộ tôn giáo đang phàn nàn sự nổi loạn của giới trẻ đối với các quan điểm giáo điều. Cùng lúc đó, đồng hành với tất cả những người tìm đạo, họ đang cần một sự khải thị mới. Họ tìm kiếm một điều gì mới và hấp dẫn để thu hút đại chúng quay lại với Thượng Đế; họ sợ rằng phải từ bỏ một điều gì đó, phải diễn giải mới những chân lý cũ, nhưng không nhận thức rằng phải đạt đến một quan điểm mới về chân lý (như nó ở trong Đức Christ); họ cảm thấy sự tiếp cận của những khải thị tinh thần mới đang gần kề, nhưng họ thường chùn bước với những hậu quả mang tính cách mạng của chúng. Họ tự hỏi nhiều vấn đề và khắc khoải bởi những sự nghi ngờ sâu kín quấy rầy. Ở đây thật thú vị ghi nhận rằng những lời đáp cho các câu hỏi này đến (và sẽ ngày càng đến) từ hai nguồn: quần chúng đang suy tư, mà nhận thức trí tuệ của họ đang tăng trưởng là nguyên nhân của sự chống đối với tôn giáo chính thống, và từ nguồn chân lý và ánh sáng đang bao trùm vốn đã luôn luôn mang lại sự khải thị qua các thời đại. Như người ta có thể thấy, các câu trả lời sẽ không đến từ bất cứ tổ chức tôn giáo nào, dù ở Châu Á hay ở phương Tây.
crystallised and of relatively little use. Priests and churchmen, orthodox instructors and fundamentalists (fanatical though sincere) are seeking to perpetuate that which is old and which sufficed in the past to satisfy the enquirer, but which now fails to do so. Sincere but unenlightened religious men are deploring the revolt of youth from doctrinal attitudes. At the same time, along with all seekers, they are demanding a new revelation. They seek something new and arresting by which to attract the masses back to God; they fear that something must be relinquished, that new interpretations of old truths must be found, but fail to realise that a new outlook upon the truth (as it is in Christ) must be attained; they sense the approach of new, impending spiritual revelations but are apt to shrink back from their revolutionary effects. They ask themselves many questions and are assailed by deep and disturbing doubts. It is interesting here to note that the answers to these questions come (and will increasingly come), from two sources: the thinking masses, whose growing intellectual perception is the cause of the revolt from orthodox religion, and from that overshadowing source of truth and light which has unfailingly brought revelation down the ages. The answers will not come, as far as one can see, from any religious organisation, whether Asiatic or Western.
Một số các câu hỏi này có thể được diễn tả như sau:
Some of these questions can be expressed as follows:
Tại sao giáo hội không thể ngăn chận sự biểu lộ điều ác quá áp đảo, như được chứng tỏ trong thế chiến vừa qua?
Why has the church been unable to arrest the overpowering expression of evil, as evidenced in the late world war?
Tại sao tôn giáo đã tỏ ra không thích ứng với nhu cầu của nhân loại?
Why has religion proved inadequate to the need of humanity?
Tại sao những người được gọi là nhà lãnh đạo tinh thần của thế giới tôn giáo không tự chứng tỏ khả năng để giúp giải quyết các vấn đề trên thế giới?
Why have the so-called spiritual leaders of the religious world proved themselves incompetent to aid in the solution of the world problems?
