một cách nghiêm trọng; y quá bận tâm với cảm giác mệt mõi, hoặc hay bị cảm lạnh, hoặc các trở ngại về tim tưởng tượng, đến nỗi “tâm thức của thân xác” đền đặn phát triển cho đến khi cuối cùng nó chế ngự cuộc sống của y; lúc bấy giờ thì quá trễ để làm bất cứ điều gì. Đặc biệt đây là trường hợp của những người đã đến tuổi năm mươi hay hơn. Đó là một sự viện cớ khó mà không dùng đến, vì nhiều người cảm thấy mệt mõi và không khỏe, và qua nhiều năm thì điều này thường tệ hại hơn.
seriously curtailed; he is so pre-occupied with feeling tired, or tending a cold, or with fancied heart difficulties that his “body consciousness” steadily develops until it eventually dominates his life; it is then too late to do anything. This is particularly the case with people who have reached their fiftieth year or over. It is an alibi which it is hard not to use, for many feel tired and ailing and this, as the years go by, is apt to get worse.
Cách chữa trị duy nhất cho tính trì trệ này là làm lơ với thể xác và tạo niềm vui trong sự sinh động của việc phụng sự. Ở đây tôi không nói một căn bệnh rõ rệt hay những trở ngại nghiệm trọng ở thể xác; đối với những trường hợp này, phải có sự chăm sóc và quan tâm đúng đắn; tôi nói về rất nhiều người nam và nữ đang không được khỏe, những người này bận tâm chăm lo cho chính họ, và quá phí phạm thời gian nhiều giờ đáng lẽ có thể được dành cho việc phụng sự nhân loại. Những người đang muốn bước lên Con Đường Đệ Tử nên bớt đi nhiều giờ tiêu phí cho việc tự chăm sóc vô ích đó để dành vào việc phụng sự Thánh Đoàn.
The only cure for this creeping inertia is to ignore the body and take your joy in the livingness of service. I speak here not of definite disease or of serious physical liabilities; to these right care and attention must be duly given; I speak to the thousands of ailing men and women who are preoccupied with taking care of themselves, and so waste hours of the time which could be given to the service of humanity. Those who are seeking to tread the Path of Discipleship should release those many hours spent in needless self-care into the service of the Hierarchy.
Vẫn còn một sự viện cớ nữa, dẫn tới tính trì trệ, là sự e sợ mà người ta có khi nói chuyện về những việc của Thiên giới với người khác; họ sợ bị cự tuyệt, hoặc sợ là người có tư tưởng khác thường, hoặc là người quấy rầy. Vì thế họ giữ im lặng, đánh mất cơ hội và không bao giờ phát hiện rằng quần chúng đã sẵn sàng như thế nào để thảo luận về các thực tại, để có sự an tâm và hy vọng mà ý tưởng về sự tái lâm của Đức Christ có thể mang lại, hoặc để chia sẻ ánh sáng tinh thần. Đây cơ bản là một hình thức hèn nhát tinh thần, nhưng quá phổ biến đến nỗi nó chịu trách nhiệm cho việc mất đi nhiều triệu giờ phụng sự trên thế giới.
Still another alibi, leading to inertia, is the fear people have of speaking about the things of the kingdom of God to others; they are afraid of being rebuffed, or of being thought peculiar, or of intruding. They, therefore, preserve silence, lose opportunity and never discover how ready people are for the discussion of realities, for the comfort and hope which the thought of Christ's return can bring, or for the sharing of spiritual light. This is essentially a form of spiritual cowardice but is so widespread that it is responsible for the loss of millions of hours of world service.
Còn có những sự viện cớ khác, nhưng những điều nêu ra ở trên thì thông thường nhất; việc giải tỏa cho đa số người khỏi những tình trạng trở ngại sẽ đưa đến nhiều giờ và nhiều nỗ lực ngoài giờ phụng sự Đức Christ đến nỗi mà công tác của những người không viện cớ sẽ
There are other alibis, but those above noted are the most common; the release of the majority of people from these hindering conditions would bring to the service of the Christ so many hours and so much overtime endeavour that the task of those who admit no alibis would
