3. Vào các giáo hội và các đoàn nhóm tôn giáo trên khắp thế giới. Ở đây (lại nói bằng những thuật ngữ chung và đồng thời thừa nhận sự tồn tại của một thiểu số có tri thức tinh thần) tiền bạc được chuyển hướng vào các khía cạnh vật chất của công việc, cho việc nhân rộng và bảo tồn các kiến trúc thuộc giáo hội, cho tiền lương và chi phí hoạt động chung, và chỉ một tỉ lệ phần trăm của nó thật sự đưa vào việc dạy dỗ quần chúng, vào trong sự biểu dương sống động tính giản dị “như sự giản dị nơi Đức Christ”, và vào việc quảng bá sự thật về sự tái lâm của Ngài – mà trong nhiều thế kỷ là một giáo lý rõ rệt của các giáo hội. Sự tái lâm đó đã được tiên liệu qua nhiều thời đại, và có thể đã xảy ra trước đây nếu các giáo hội và các tổ chức tôn giáo ở khắp nơi đã thực hiện bổn phận của họ.
3. Into the churches and religious groups throughout the world. Here (again speaking in general terms and at the same time recognising the existence of a spiritually-minded minority) the money is deflected into the material aspects of the work, into the multiplying and preservation of ecclesiastical structures, into salaries and general overhead, and only a percentage of it really goes into the teaching of the people, into a living demonstration of the simplicity “as it is in Christ,” and into the spreading of the fact of His return—for centuries a definite doctrine of the churches. That return has been anticipated down the ages, and might have occurred ere now had the churches and religious organisations everywhere done their duty.
4. Vào công tác từ thiện, giáo dục và y tế. Tất cả công việc này đã hết sức tốt đẹp và vô cùng cần thiết, và món nợ của thế gian đối với những người có tinh thần xã hội thì thật sự rất lớn, những người đã tạo lập các cơ sở từ thiện này. Tất cả điều này đã là một bước đi đúng hướng và là một biểu lộ của ý-chí-hướng-thiện thiêng liêng. Tuy nhiên, thường thì tiền bạc đã bị sử dụng sai và không đúng mục đích, và các giá trị đã được phát triển thì phần lớn là các cơ sở vật chất và có tính cụ thể. Chúng (các giá trị này − ND) đã bị giới hạn bởi các nguyên tắc riêng của những người cho tặng, hoặc các định kiến tôn giáo của những người kiểm soát sự chi tiêu của các quỹ. Trong khi tranh luận về các quan niệm, các lý thuyết tôn giáo và các ý thức hệ, sự trợ giúp thật sự của một Nhân Loại Duy Nhất bị bỏ qua.
4. Into philanthropic, educational and medical work. All of this has been exceedingly good and greatly needed and the debt of the world to the public-spirited men who have made these institutions possible is great indeed. All of this has been a step in the right direction and an expression of the divine will-to-good. It is, however, frequently money misused and misdirected and the values developed have been largely institutional and concrete. They have been limited by the separative tenets of the donors, or the religious prejudices of those who control the disbursement of the funds. In the quarrelling over ideas, religious theories and ideologies, the true assistance of the One Humanity is overlooked.
Còn một sự kiện là nếu các cơ quan điều hành (mà tiền bạc của thể giới được lưu chuyển qua đó) đã có một nhãn quan thật sự nào đó về các thực tại tinh thần, về
The fact remains that had the directing agencies (through whose hands the money of the world is channelled) any true vision of the spiritual realities, of the
