lóe lên trong linh hồn Ngài – chứ không phải trong trí Ngài, vì sự khải thị này lớn lao hơn trí tuệ rất nhiều. Ngài đã thấy rõ ý nghĩa của Thiên tính còn sâu xa hơn sự hiểu biết có thể có từ trước đến giờ; thế giới của ý nghĩa và thế giới của hiện tượng mờ đi, và – nói theo cách nội môn – Ngài đã mất tất cả những gì Ngài có. Bởi vì vào lúc đó, Ngài không còn năng lượng của trí sáng tạo cũng như không còn năng lượng bác ái. Ngài đã bị tước đoạt mất tất cả những gì đã làm cho cuộc sống dễ chịu và đầy ý nghĩa. Một loại năng lượng mới trở nên khả dụng – đó là năng lượng của chính sự sống, được thấm nhuần với mục đích và được phát động bởi ý định thiêng liêng. Nhưng năng lượng này còn mới mẻ, không được biết, và từ trước đến giờ không được nhận thức. Bởi vì, lần đầu tiên, Ngài nhận thức rõ ràng mối quan hệ của ý chí, mà từ trước đến giờ nó đã tự biểu lộ trong cuộc sống của Ngài thông qua bác ái và hoạt động sáng tạo trong việc phát khởi nền tôn giáo mới. Ở mức này, Ngài trải qua vườn Gethsemane của sự từ bỏ. Những gì vĩ đại hơn, rộng rãi hơn và bao quát hơn đã được tiết lộ cho Ngài, và tất cả những gì từ trước đến giờ chừng như quá chính yếu và quan trọng thì nay đã mất dạng đi trong tầm nhìn rộng lớn hơn. Tâm thức đang khai mở của Đức Christ trên Con Đường Tiến Hóa Cao Siêu được cấu thành bởi sự nhận thức sinh động về Bản Thể hằng hữu và về sự đồng nhất với chủ đích thiêng liêng của chính Thượng Đế, là Đấng Cha Lành, là Đức Chúa Tể Hoàn Cầu ở trên những tầm mức ý thức mà chúng ta không biết gì (cho đến nay). Ngài đang dấn bước trên con đường này và Ngài đã khởi bước trên đó ở Palestine cách đây hai nghìn năm.
dawned upon His soul—not on His mind, for the revelation was far greater than that. He saw still further into the meaning of divinity than had ever before seemed possible; the world of meaning and the world of phenomena faded out and—esoterically speaking—He lost His all. For the time being, neither the energy of the creative mind nor the energy of love were left to Him. He was bereft of all that had made life bearable and full of meaning. A new type of energy became available—the energy of life itself, imbued with purpose and actuated by intention. But it was new and unknown and hitherto unrealised. For the first time, the relation of the will which had hitherto expressed itself in His life through love and the creative work of inaugurating the new dispensation became clear to Him. At this point, He passed through the Gethsemane of renunciation. The greater, the larger and the more inclusive was revealed to Him and all that hitherto seemed so vital and important was lost to sight in the greater vision. It is this living realisation of Being and of identification with the divine intention of God Himself, the Father, the Lord of the World upon levels of awareness of which we know nothing (as yet) which constituted the unfolding awareness of the Christ upon the Way of the Higher Evolution. This Way He treads today and He began to tread it in Palestine two thousand years ago.
Ngài đã biết, theo một ý nghĩa mà trước đó Ngài không biết, Thượng Đế đã dự định điều gì và vận mệnh nhân loại có ý nghĩa gì, và vai trò mà Ngài đã phải đóng trong việc thực hiện vận mệnh đó. Qua nhiều thế kỷ suy tư của nhân loại, chúng ta đã ít chú ý đến phản ứng của Đức Christ đối với vận mệnh của riêng Ngài, khi nó ảnh hưởng đến vận mệnh của nhân loại. Chúng ta đã không quan tâm mấy đến phương diện phản ứng của Ngài đối với sự hiểu biết khi nó tự khai mở ra cho
He knew, in a sense hitherto unknown to Him, what God intended and what human destiny meant, and the part that He had to play in the working out of that destiny. We have paid little attention down the centuries of human thinking to Christ's reaction to His own destiny, as it affected the human. We have paid small attention to the aspect of His reaction to knowledge, as it unfolded itself to
