cuộc sống hoàn hảo của linh hồn, cũng như Thánh Đường trong hoang mạc là biểu tượng cuộc đời phù du bất toàn của phàm ngã vô thường; bởi thế, Đức Christ đang nói trên các cấp độ linh hồn, chứ không chỉ như con người tinh thần ở trần gian. Lúc nói những lời này, Ngài cũng đang phụng sự với tư cách thành viên hoạt động của Thánh Đoàn, vì cha mẹ Ngài đã thấy Ngài đang giảng thuyết cho các tu sĩ Pharisee và Sadducee. Tất cả những điểm này chứng tỏ sự nhận thức của Ngài về nhiệm vụ của Ngài là một Vị Chưởng Giáo Thế Giới, và lần đầu tiên trong não bộ hồng trần của Ngài, Ngài bắt đầu ý thức chủ đích thiêng liêng hay Thiên ý.
of the perfect life of the soul, just as the Tabernacle in the wilderness is the symbol of the imperfect ephemeral life of the transient personality; Christ was, therefore, speaking on soul levels and not only as the spiritual man on Earth. He was also serving, when He spoke these words, as a working Member of the Spiritual Hierarchy, for He was found by His parents teaching the priests, the Pharisees and the Sadducees. These points all indicate His recognition of His work as a World Teacher, becoming conscious, for the first time in His physical brain, of divine intention or of the divine will.
2. Kế đến là lời Ngài nói với các đệ tử: “Ta phải lên đường đi Jerusalem,” sau đó chúng ta đọc thấy rằng Ngài “kiên quyết ra đi” đến thành phố đó. Điều này báo cho họ biết rằng bấy giờ Ngài đã có một mục tiêu mới. Nơi duy nhất hoàn toàn “bình an” (vốn là nghĩa của tên “Jerusalem”) là “trung tâm biết được Thiên ý”. Thánh Đoàn của Địa Cầu (là Giáo Hội vô hình của Đức Christ) không phải là một trung tâm bình an mà chính là một vùng xoáy của hoạt động bác ái, là nơi gặp nhau của những năng lượng đến từ trung tâm của Thiên ý, và đến từ nhân loại, là trung tâm của thông tuệ thiêng liêng. Đức Christ đã định hướng cho chính Ngài đến trung tâm thiêng liêng ấy, nơi mà trong các Thánh Kinh xưa gọi là “nơi của sự quyết tâm thanh bình và của ý chí an tĩnh, yên lặng”. Câu này đánh dấu điểm khủng hoảng và quyết định trong cuộc sống của Đức Christ và chứng tỏ sự tiến triển của Ngài hướng đến sự hoàn mãn thiêng liêng.
2. Next comes His statement to His disciples: “I must go up to Jerusalem,” after which we read that He “steadfastly set His face to go” to that city. This was the intimation to them that He now had a new objective. The only place of complete “peace” (which is the meaning of the name “Jerusalem”) is the “centre where the will of God is known.” The spiritual Hierarchy of our planet (the invisible Church of Christ) is not a centre of peace but a very vortex of loving activity, the meeting place of energies coming from the centre of the divine will, and from humanity, the centre of divine intelligence. Christ had oriented Himself to that divine centre which has, in the ancient Scriptures, been called the “place of serene determination and of poised, quiescent will.” This statement marked a point of crisis and of determination in the life of Christ, and proved His progress towards divine fulfilment.
3. Rồi trong Vườn Gethsemane, Ngài đã nói: “Hỡi Cha, không phải ý chí của con mà là ý chí của Cha được thực hiện,” như thế chứng tỏ sự nhận thức của Ngài về Thiên mệnh. Ý nghĩa của những lời này không phải (như thường được
3. Then in the Garden of Gethsemane He said, “Father, not My will but Thine be done,” thus indicating His realisation of divine destiny. The meaning of these words is not (as is so often stated by Christian
