và không hiệu quả, bởi vì sự tăng trưởng của các giáo hội qua nhiều thế kỷ đã không bảo đảm cho thành quả tinh thần mà Ngài nhắm tới. Cần nhiều hơn các diễn giải thần học và sự tăng trưởng về số lượng các tôn giáo trên thế giới (gồm cả Thiên Chúa Giáo và Phật giáo) để chứng minh sứ mệnh của Ngài đối với thế gian đã tiến hành thành công. Sứ mệnh có vẻ hoàn toàn không thể thực hiện đó đòi hỏi ba điều kiện; chúng ta có thể dùng ba điều kiện này để thử kiểm tra công trình của Ngài; ngày nay ba điều kiện này được chứng minh là các sự kiện thực tế. Thứ nhất (1), như chúng ta đã thấy, một tình trạng phổ biến toàn cầu (do tính ích kỷ của con người) bất hạnh thay đã chứng tỏ bản chất quá thảm khốc đến độ nhân loại bị buộc phải nhận thức nguyên nhân và nguồn gốc của thảm họa; hai là (2), một sự thức tỉnh tinh thần có xung lực của nó ở những chốn sâu kín nhất trong tâm thức con người, và trường hợp như thế ngày nay là kết quả của Thế Chiến (1914-1945); ba là (3), một sự kêu gọi, cầu nguyện, hay yêu cầu có tính khẩn cầu đang liên tục dâng cao, hướng thẳng đến những nguồn cội tinh thần cao cả, dù nguồn cội đó có thể được gọi với danh xưng nào.
and of no avail, for the growth of the churches during the centuries is no guarantee of the spiritual success at which He aimed. It needed more than theological interpretations and the numerical growth of the world religions (including Christianity and Buddhism) to prove His world mission successfully carried forward. It all seemed impossible, necessitating three conditions; under these a test of His work could be attempted; today these three conditions are proven facts. First, as we have seen, a general planetary condition which has unfortunately (owing to man's selfishness) proved to be so catastrophic in nature that humanity has been forced to recognise the cause and source of the disaster; secondly, a spiritual awakening which would have its impulse in the deepest depths of man's consciousness and such is the case today as a result of the World War (1914-1945); thirdly, a steadily mounting invocative cry, prayer or demand, directed toward high spiritual sources, no matter by what name such sources may be called.
Ngày nay, cả ba điều kiện này đã hoàn thành và nhân loại đang đứng trước cơ hội đổi mới. (1) Tai họa đã xảy đến cho nhân loại phổ biến và rộng khắp; không ai đã thoát khỏi, và tất cả mọi người đều bị dính dáng đến theo cách này hay cách khác – về thể chất, kinh tế hay xã hội. (2) Sự thức tỉnh tinh thần của con người ở khắp nơi (dù họ ở trong hay ngoài tôn giáo, mà phần lớn là ở ngoài) là phổ biến và toàn diện, và việc quay về với Thượng Đế được thấy ở mọi nơi. Sau cùng, hai lý do này đã nổi lên – mà trước đây không bao giờ có – (3) sự kêu cầu thỉnh nguyện của nhân loại; sự thỉnh nguyện này rõ ràng hơn, thanh khiết hơn và ít vị kỷ hơn bất cứ thời điểm nào khác trong lịch sử nhân loại, bởi vì nó dựa trên sự suy tư sáng tỏ hơn và một nỗi đau khổ chung. Tôn giáo chân chính đang phát lộ trong tâm hồn mọi người ở mọi nơi; sự nhận thức này về một hy vọng và bối cảnh thiêng liêng có thể đem con người trở về
Today, these three conditions have been fulfilled and humanity faces renewed opportunity. The disaster which has overtaken mankind is universal and widespread; no one has escaped and all men are involved in some way or another—physically, economically or socially. The spiritual awakening of men everywhere (within or without the world faiths, and largely outside of them) is general and complete and a turning to God is to be seen on every hand. Finally these two causes have aroused—as never before—the invocative cry of humanity; it is clearer, purer and more selfless than at any other time in human history because it is based on clearer thinking and a common distress. True religion is again emerging in the hearts of men in every land; this recognition of a divine hope and background may possibly take people back
