những câu chuyện và những lời tuyên bố như thế, dù chẳng hay ho, lệch lạc và sai lầm, nhưng vẫn chứng tỏ niềm mong mỏi của nhân loại về việc sắp giáng lâm của Ngài. Niềm tin vào sự giáng lâm của Ngài là cơ bản trong tâm thức nhân loại. Ngài sẽ đến như thế nào, và theo cách thức nào thì vẫn chưa được minh định. Thời khắc chính xác chưa đến, và phương cách xuất hiện của Ngài cũng chưa được quyết định. Tính chất thực tế của hai biện pháp sơ khởi và đầu tiên đã được Thánh Đoàn thực hiện dưới sự chỉ đạo của Ngài, là sự bảo đảm rằng Ngài sẽ đến, và rằng khi Ngài đến, nhân loại sẽ sẵn sàng.
of such tales and claims, though undesirable, misleading and wrong, nevertheless demonstrates human expectancy of the imminence of His coming. Belief in His coming is basic in the human consciousness. How He will come and in what manner is not yet stated. The exact moment has not yet arrived nor has the method of His appearance been determined. The factual nature of the two earlier and preparatory moves, already made by the Hierarchy under His direction, are the guarantee that He will come and that when He does, mankind will be ready.
Chúng ta hãy tổng kết một số phương diện của công việc mà Ngài đã phát khởi cách đây 2 000 năm, vì chúng nắm giữ manh mối của công việc tương lai của Ngài. Manh mối này chúng ta đã biết rõ phần nào, vì nó đã được nhấn mạnh bởi các tôn giáo trên thế giới, và đặc biệt bởi các giáo sĩ Công Giáo. Nhưng tất cả những điều đó đã làm cho người ta thấy công việc của Ngài có vẻ khó hiểu, và sự nhấn mạnh thái quá vào tính cách thiêng liêng của Ngài (một sự nhấn mạnh mà chính Ngài không bao giờ làm) đã khiến nó có vẻ rằng Ngài và chỉ là Ngài chứ không ai khác có thể làm những việc tương tự như thế. Những nhà thần học quên rằng chính Ngài đã nói: “Các ngươi sẽ làm những việc lớn lao hơn nữa, bởi vì Ta về với Cha Ta” (John. XIV. 12). Ở đây, Ngài ngụ ý rằng việc Ngài về Nhà Cha sẽ mang lại một dòng chảy vào của sức mạnh, sự sáng suốt tinh thần và sự thành tựu sáng tạo cho con người, rằng việc làm của họ sẽ vượt trội hơn những việc mà Ngài đã làm; bởi vì giáo huấn của Ngài bị biến dạng và quá xa cách con người, nên chúng ta đã chưa làm được “những việc lớn lao” đó. Một ngày kia, chắc chắn chúng ta sẽ làm được, và trong một số đường lối nào đó thì chúng ta đã làm được rồi. Hãy để Tôi kể lại những điều mà Ngài đã làm mà chúng ta có thể làm được, và Ngài sẽ giúp chúng ta làm.
Let us summarise certain aspects of the work He set in motion two thousand years ago, because they hold the clue to His future work. Some of it is well known to you, for it has been emphasised by the world faiths and particularly by teachers of the Christian faith. But all of them have made His work appear difficult for man to grasp, and the undue emphasis laid upon His divinity (an emphasis which He Himself never made) has made it appear that He and He only and no one else could possibly do the same works. Theologians have forgotten that He Himself stated that “greater things shall ye do, because I go unto my Father.” (John XIV.12.) He here indicates that this passing to the Father's House would result in such an inflow of spiritual strength, insight and creative accomplishment for man, that their deeds would surpass His; because of the distortion of His teaching and its remote relation to man, we have not yet done those “greater things.” Some day, we assuredly will and—along certain lines—we already have. Let me relate some of the things He did which we can do, and which He will aid.
1. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, lòng bác ái của Thượng Đế đã được thể hiện trong một con người, và Đức Christ đã khai sáng kỷ nguyên của bác ái. Sự biểu lộ của lòng bác ái thiêng liêng ấy hãy còn trên đà
1. For the first time in human history, the love of God was embodied in a man and Christ inaugurated the era of love. That expression of divine love is still in the
