2. Christ, nội tại nơi tâm mỗi người, có thể được gợi lên để nhận thức sự xuất hiện của Ngài.
2. That the Christ, immanent in every human heart, can be evoked in recognition of His appearance.
3. Trường hợp tái lâm của Ngài chỉ được các Thánh Kinh trên thế giới đề cập đến một cách tượng trưng; sự kiện này (sự tái lâm của Ngài) có thể tạo ra một sự thay đổi quan trọng trong các định kiến của nhân loại.
3. That the circumstances of His return are only symbolically related in the world Scriptures; this may produce a vital change in the preconceived ideas of humanity.
4. Việc chuẩn bị cần thiết chủ yếu là một thế giới hòa bình; tuy nhiên, nền hòa bình ấy phải đặt trên một thiện chí được rèn luyện, thiện chí ấy chắc chắn sẽ dẫn đến những liên giao chính đáng trong nhân loại, và do thế, dẫn đến việc thiết lập (nói một cách bóng bẩy) những đường ánh sáng giữa quốc gia với quốc gia, tôn giáo với tôn giáo, tập thể với tập thể và người với người.
4. That the major required preparation is a world at peace; however, that peace must be based on an educated goodwill, which will lead inevitably to right human relations, and, therefore, to the establishment (figuratively speaking) of lines of light between nation and nation, religion and religion, group and group and man and man.
Nếu chúng ta có thể thành công trong việc trình bày bốn ý tưởng trên một cách rộng rãi cho thế gian, và nhờ thế mà thắng phục sự chỉ trích của các nhà trí thức rằng tất cả những điều nói trên là quá mơ hồ, có tính tiên đoán, và hư ảo, thì chúng ta đã làm được rất nhiều. Có thể chắc chắn rằng chân lý xưa nói rằng: “cái trí là kẻ giết chết sự thật,” có thể cơ bản là đúng thật đối với đại khối nhân loại, và một sự tiếp cận thuần trí tuệ (gạt bỏ viễn ảnh và không chấp nhận điều chưa được chứng minh) có thể là sai lầm rất nhiều so với việc dự kiến của các vị Thức Giả của Thượng Đế và niềm mong đợi của quảng đại quần chúng.
If we can succeed in presenting these four ideas to the world at large, and thus in overcoming the intelligent criticism that all that is said is too vague, prophetic, and visionary, we shall have done much. It is possible surely that the ancient truism that “the mind is the slayer of the real” may be fundamentally true where the mass of humanity is concerned and that the purely intellectual approach (which rejects the vision and refuses to accept the unprovable) may be far more at fault than the anticipation of the Knowers of God and the expectant multitude.
Sự thông tuệ thiêng liêng được ban cho Thánh Đoàn, và Thánh Đoàn ngày nay gồm những Vị đã kết hợp nơi các Ngài cả trí tuệ lẫn trực giác, cả cái thực tế và cái có vẻ thiếu thực tế, cả cách sống thực tiễn và cách sống của nhà viễn kiến. Cũng có những người ắt hẳn được tìm thấy nơi chốn thị tứ của cuộc sống hàng ngày; đây là những người phải được huấn luyện để có những nhận thức thiêng liêng, vốn là những đáp ứng thiết yếu ở cõi trần, đối với các khai triển tâm thức mới mẻ hơn. Đức Christ sắp tái lâm sẽ không giống với Đức Christ (có vẻ như) đã ra đi. Ngài sẽ không phải là một “con người đau khổ”; Ngài sẽ không phải là một nhân vật trầm tư mặc tưởng; Ngài sẽ là
The intelligence of divinity is vested in the Spiritual Hierarchy, and that Hierarchy is today composed of Those Who have united in Themselves both the intellect and the intuition, the practical and the apparently impractical, the factual way of life and way of the man who sees a vision. There are also people who must be found in the market place of daily life; these are the people who must be trained in the divine recognitions which are essentially physical plane responses to the newer expansions of consciousness. The Christ Who will return will not be like the Christ Who (apparently) departed. He will not be a “man of sorrows”; He will not be a silent pensive figure; He will be the enunciator of spiritual statements which
